Đồng chí Ma Thị Nguyệt: Thái Nguyên là một tỉnh nghèo, thu nhập bình quân đầu người và trình độ dân trí ở nhiều huyện miền núi còn thấp; con em các dân tộc ở nhiều xóm bản xa, hẻo lánh, sống phân tán, đường đi lại khó khăn, nhất là trong mùa mưa dẫn tới tình trạng học sinh chán học, bỏ học. Một số xã miền núi, vùng cao những năm trước đây tình trạng học sinh vào lớp 1 chậm hơn so với độ tuổi; thậm chí, phụ huynh không nhớ chính xác ngày tháng năm sinh của con nên gây khó khăn cho công tác điều tra cơ bản. Mặt khác, cơ sở vật chất trường lớp ở các xã này cũng như các điểm trường còn nghèo nàn, tiến độ xây dựng trường chuẩn quốc gia ở cấp THCS chậm gây khó khăn cho việc thực hiện chuẩn điều kiện PCGD. Bên cạnh đó, số giáo viên dạy phổ cập còn thiếu, nguồn kinh phí chi trả quá thấp, không có kinh phí trả cho giáo viên chủ nhiệm lớp, người làm công tác tái điều tra đối tượng phổ cập nên không động viên được họ trong công việc. Đặc biệt, điều kiện công nhận đạt chuẩn PCGD THCS rất ngặt nghèo, đó là phải có 90% số đơn vị cấp huyện trong tỉnh đạt chuẩn trong khi Thái Nguyên lại có 9 huyện, thành phố, thị xã tức là tỉnh muốn đạt chuẩn thì cả 9/9 đơn vị phải đạt chuẩn…
Khó khăn là vậy, song dưới sự chỉ đạo của Tỉnh ủy thông qua Nghị quyết số 16/2000 đề ra kế hoạch PCGDTH ĐĐT vào năm 2002, PCGD THCS vào năm 2005, tiến tới phổ cập bậc trung học vào năm 2015, UBND tỉnh đã có nhiều quyết sách để thực hiện được các mục tiêu đề ra. UBND tỉnh đã quyết định thành lập Ban chỉ đạo cấp tỉnh do đồng chí Phó Chủ tịch UBND tỉnh làm Trưởng ban chỉ đạo; phó trưởng ban thường trực là Giám đốc Sở GD & ĐT, ủy viên là đại diện các sở, ban, ngành, đoàn thể trong tỉnh; phân công rõ trách nhiệm cho các thành viên theo dõi, phụ trách các huyện, thành, thị. Căn cứ vào sự chỉ đạo của cấp tỉnh, UBND cấp huyện và cấp xã đã xây dựng đề án của địa phương, có nghị quyết chuyên đề về công tác PCGD nhằm thực hiện mục tiêu đạt chuẩn, duy trì và nâng cao chất lượng PCGDTH ĐĐT, PCGD THCS. Nhiệm vụ PCGD được đặt trong kế hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội của các địa phương, được cụ thể hóa trong nhiệm vụ của từng năm.
PV: Vậy những biện pháp nào được tỉnh chọn là giải pháp đột phá trong việc thực hiện công tác PGGD, thưa đồng chí?
Đồng chí Ma Thị Nguyệt: Đó là đẩy mạnh công tác tuyên truyền tới mọi tầng lớp nhân dân nâng cao nhận thức về ý nghĩa, trách nhiệm để tạo sự đồng thuận cao trong việc thực hiện các mục tiêu đề ra. Mặt khác kiên trì huy động, duy trì các lớp bổ túc. Ngoài đội ngũ các thầy cô giáo, các tổ chức hội đoàn thể đã đến từng thôn, bản để động viên, tuyên truyền, vận động và tổ chức giảng dạy PCGD ngay tại khu dân cư cho con em đồng bào ở lứa tuổi phổ cập không có điều kiện đến các lớp phổ thông. Đồng thời, đẩy mạnh việc thực hiện mục tiêu xây dựng trường, lớp theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa. Tăng cường đầu tư kinh phí để trang bị các tài liệu phục vụ cho công tác chuyên môn, đổi mới phương pháp giảng dạy, thực hiện đổi mới chương trình giáo dục phổ thông. Chỉ tính riêng 4 năm (2002-2006), tỉnh đã dành hơn 30 tỷ đồng cho việc mua sắm các trang thiết bị dạy học cho các trường tiểu học, THCS trên địa bàn. Năm học 2000-2001, tỷ lệ trường tiểu học đạt chuẩn Quốc gia của tỉnh là 10,4%, cấp THCS không có trường nào đạt chuẩn thì đến tháng 12/2010 đã có 183 trường tiểu học đạt chuẩn, chiếm tỷ lệ 81,33%; THCS là 34,4%.
Cùng với đó là đặc biệt quan tâm xây dựng đội ngũ giáo viên về trình độ, có các cơ chế tuyển dụng đảm bảo đủ giáo viên theo cơ cấu, định mức đứng lớp. Nhờ đó, đội ngũ giáo viên ngày càng phát triển theo hướng đủ, đồng bộ, chuẩn hóa và từng bước nâng trên chuẩn. Ở cấp tiểu học năm học 2009-2010 có tổng 4.826 giáo viên, 100% đạt chuẩn về trình độ đào tạo, trong đó tỷ lệ trên chuẩn chiếm tới 79,44%; cấp THCS tổng số giáo viên là 4.601 thì số đạt chuẩn và trên chuẩn là 98,22%. Công tác xã hội hóa giáo dục được đẩy mạnh nhằm huy động các nguồn lực đầu tư cho giáo dục. Bên cạnh đó việc quản lý hồ sơ, thực hiện các chính sách với đối tượng tham gia công tác PCGD cũng được đặc biệt quan tâm. Ngoài nguồn kinh phí tỉnh cấp cho các huyện, xã đã hỗ trợ từ nguồn kinh phí của địa phương cho hoạt động của ban chỉ đạo PCGD và cho công tác PCGD. Trong đó, việc chi cho giáo viên là 6 nghìn đồng/tiết dạy. Miễn toàn bộ học phí và các khoản đóng góp cho học viên. Mỗi khóa học, học viên được mượn 1 bộ sách giáo khoa, được cấp 10 tập giấy, bút, dầu đèn.
PV: Vậy kết quả đạt được của công tác PCGDTH ĐĐT và PCGD THCS của tỉnh giai đoạn 2001-2010 đạt được như thế nào, thưa đồng chí?
Đồng chí Ma Thị Nguyệt: Năm 2000, có 43 xã, phường thuộc huyện Phổ Yên và T.P Thái Nguyên được công nhận đạt chuẩn PCGDTH ĐĐT thì đến năm 2002 toàn tỉnh có 164/180 xã, phường, thị trấn được công nhận, đạt 91,11%. Tổng số huyện đạt chuẩn 8/9 huyện, tỷ lệ 88,8%. Duy trì kết quả PCGDTH - chống mù chữ theo tiêu chuẩn quốc gia: 180/180 xã và 9/9 huyện giữ vững chuẩn. Theo Quyết định số 28/1999/BGD&ĐT của Bộ GD&ĐT, tại thời điểm tháng 12/2002 đã công nhận Thái Nguyên đạt chuẩn Quốc gia PCGDTH ĐĐT và trở thành tỉnh thứ 11 trong toàn quốc, tỉnh miền núi đầu tiên đạt chuẩn quốc gia về PCGDTH ĐĐT. Từ năm 2002 đến nay, tỉnh luôn duy trì chuẩn một cách vững chắc, từ năm 2005 đến 2010 luôn đạt tỷ lệ 100% đơn vị cấp huyện và cấp xã đạt chuẩn PCGDTH ĐĐT. Đối với PCGD THCS, trong khi năm 1997 toàn tỉnh mới có 12 xã, phường đạt chuẩn chủ yếu ở địa bàn T.P Thái Nguyên, T.X Sông Công thì đến thời điểm tháng 11-2004, 9/9 huyện, thành, thị với 179/180 xã, phường, thị trấn đạt chuẩn PCGD THCS. Hiện nay, 100% số xã, phường, thị trấn của cả 9 huyện, thành, thị trong tỉnh đều đạt chuẩn PCGD THCS. Đây là cơ sở vững chắc để góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, cũng như chất lượng nguồn nhân lực của tỉnh trong giai đoạn đẩy mạnh CNH-HĐH đất nước.
PV: Từ kết quả công tác PCGD của tỉnh trong 10 năm qua là cơ sở để tỉnh tiếp tục đề ra mục tiêu PCGDTH ĐĐT và PCGD THCS trong giai đoạn tới như thế nào?
Đồng chí Ma Thị Nguyệt: Mục tiêu cho giai đoạn 2011-2015 đó là tiếp tục giữ vững và nâng cao kết quả đạt chuẩn quốc gia về chống mù chữ. Huy động tối đa đối tượng bỏ học ra lớp, đối tượng học viên được công nhận mức 3 hoặc đang học dở dang lớp 4, 5 ra lớp sau xóa mù chữ. Thời gian tới cần tiếp tục quan tâm mở rộng các hình thức học tập, tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất cho người học. Duy trì kết quả PCGDTH ĐĐT và PCGD THCS. Tiếp tục nâng cao mặt bằng dân trí, nâng cao chất lượng giáo dục đảm bảo về chất lượng và số lượng để kết quả PCGD đạt được vững chắc. Tiếp tục đẩy mạnh việc ứng dụng công nghệ thông tin vào các hoạt động của nhà trường từ khâu quản lý đến giảng dạy. Chú trọng xây dựng môi trường giáo dục thân thiện nhằm thu hút học sinh đến trường, không để tình trạng bỏ học và thiếu động cơ học tập trong một bộ phận thanh thiếu niên. Thực hiện PCGD trung học trước mắt tiến hành ở những địa phương có điều kiện. Xác định rõ công tác PCGD tiểu học và PCGD trung học là mục tiêu quốc gia, tạo tiền đề để nâng cao dân trí, đào tạo nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, thời gian tới Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh sẽ tiếp tục ban hành các nghị quyết chuyên đề về công tác PCGD, chỉ đạo các cấp ủy Đảng, chính quyền, đoàn thể, hội quần chúng thực hiện nghiêm túc công tác PCGD hàng năm ở địa phương.
P.V: Xin trân trọng cảm ơn đồng chí!
