Phần thứ 2: HƯỚNG DẪN THỰC HIỆN NHỮNG ĐIỂM MỚI LUẬT BẦU CỬ ĐẠI BIỂU HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN NĂM 2003 VÀ LUẬT SỬA ĐỔI, BỔ SUNG NĂM 2010

I. NHỮNG ĐIỂM MỚI
TRONG LUẬT BẦU CỬ ĐẠI BIỂU
HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN NĂM 2003
VÀ LUẬT SỬA ĐỔI, BỔ SUNG NĂM 2010

Mục 1
KHU VỰC BẦU CỬ

Câu hỏi 74: Khu vực bỏ phiếu bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân trong cuộc bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân và bầu cử đại biểu Quốc hội có quy định gì mới?

Trả lời: Khoản 1 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và Luật Bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân được ban hành năm 2010 (sau đây gọi chung là Luật sửa đổi, bổ sung năm 2010) quy định khu vực bỏ phiếu bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân đồng thời là khu vực bỏ phiếu bầu cử đại biểu Quốc hội.

Mục 2
CÁC TỔ CHỨC
PHỤ TRÁCH BẦU CỬ

Câu hỏi 75: Những điểm mới về tổ chức phụ trách bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân được Luật sửa đổi, bổ sung năm 2010 quy định như thế nào?

Trả lời: Theo Khoản 2 Điều 2 Luật sửa đổi, bổ sung năm 2010, có một số điểm mới về tổ chức phụ trách bầu cử như sau:

-  Thành lập Hội đồng bầu cử ở Trung ương để đồng thời chỉ đạo công tác bầu cử đại biểu Quốc hội, bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân trong cả nước. Quy định nhiệm vụ, quyền hạn trong bầu cử đại biểu Quốc hội và bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân của tổ chức này. 

- Thành lập Uỷ ban bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh (Đổi tên Hội đồng bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh thành Uỷ ban bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương). Quy định nhiệm vụ và quyền hạn trong bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân của tổ chức này để chỉ đạo cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân trong phạm vi ở tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương. 

- Thành lập Uỷ ban bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp huyện, cấp xã (Đổi tên Hội đồng bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp huyện thành Uỷ ban bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp huyện ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh). Quy định nhiệm vụ và quyền hạn trong bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân của tổ chức này để chỉ đạo cuộc bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân trong phạm vi huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh.

- Thành lập Tổ bầu cử chung phục vụ công tác bầu cử đại biểu Quốc hội và bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp (Đổi tên Hội đồng bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp xã thành Uỷ ban bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp xã ở xã, phường, thị trấn). Quy định nhiệm vụ và quyền hạn trong bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân của tổ chức này để tổ chức thực hiện cuộc bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp và đại biểu Quốc hội trong khu vực bỏ phiếu.

 - Ban hành quy định mới về thời hạn hết nhiệm vụ của các tổ chức phụ trách công tác bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân.

  - Điều chỉnh, bổ sung quy định về thành phần và cơ cấu một số tổ chức phụ trách bầu cử bổ sung đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp.

Câu hỏi 76: Thành phần, số lượng thành viên các Uỷ ban bầu cử (Uỷ ban bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, Uỷ ban bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp huyện và Uỷ ban bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp xã) được quy định như thế nào?

Trả lời:

- Đối với Uỷ ban bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh:

 Theo Khoản 4 Điều 2 Luật sửa đổi, bổ sung năm 2010, Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương sau khi thống nhất với Thường trực Hội đồng nhân dân và Ban Thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc cùng cấp quyết định thành lập Uỷ ban bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh để thực hiện công tác bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh.

Thời hạn thành lập Uỷ ban bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh chậm nhất là chín mươi lăm ngày trước ngày bầu cử.

Thành phần Uỷ ban bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh gồm Chủ tịch, các Phó Chủ tịch, Thư ký và các Uỷ viên là đại diện Thường trực Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân, Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc cùng cấp, một số cơ quan, tổ chức hữu quan.

Số lượng thành viên Uỷ ban bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh có từ hai mươi mốt đến ba mươi mốt người.

Danh sách Uỷ ban bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh phải được báo cáo lên Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và Hội đồng bầu cử.

- Đối với Uỷ ban bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp huyện và cấp xã:

 Theo Khoản 4 Điều 2 Luật sửa đổi, bổ sung năm 2010, Uỷ ban nhân dân cấp huyện, cấp xã sau khi thống nhất với Thường trực Hội đồng nhân dân và Ban Thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc cùng cấp quyết định thành lập Uỷ ban bầu cử tương ứng

Thời hạn thành lập Uỷ ban bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp huyện, cấp xã chậm nhất là chín mươi lăm ngày trước ngày bầu cử.

Thành phần Uỷ ban bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp huyện, cấp xã gồm đại diện Thường trực Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân, Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc, một số cơ quan, tổ chức hữu quan.

Số lượng thành viên Uỷ ban bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp huyện, cấp xã:

Uỷ ban bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp huyện có từ mười một đến mười lăm người.

Uỷ ban bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp xã có từ chín đến mười một người.

Uỷ ban bầu cử gồm Chủ tịch, các Phó Chủ tịch, Thư ký và các Uỷ viên.

Danh sách Uỷ ban bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp huyện và cấp xã phải được báo cáo lên Thường trực Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân và Ban Thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc cấp trên trực tiếp.

Câu hỏi 77: Uỷ ban bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp huyện, cấp xã có nhiệm vụ, quyền hạn gì?

Trả lời: Theo Khoản 4 Điều 2 Luật sửa đổi, bổ sung năm 2010, Điều 26 Nghị quyết số 1020/2011/UBTVQH12 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, đối với bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân, Uỷ ban bầu cử có những nhiệm vụ và quyền hạn sau đây:

- Chỉ đạo việc tổ chức bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân ở địa phương; kiểm tra, đôn đốc việc thi hành quy định của pháp luật về bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân;

- Chỉ đạo thực hiện công tác bảo vệ an ninh, trật tự, an toàn xã hội trong cuộc bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân ở địa phương;

- Chỉ đạo công tác thông tin, tuyên truyền và vận động bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân ở địa phương;

- Nhận và xem xét hồ sơ của những người được tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, tổ chức kinh tế, đơn vị vũ trang nhân dân, cơ quan nhà nước, thôn, tổ dân phố ở địa phương giới thiệu ứng cử và những người tự ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân; gửi danh sách trích ngang và tiểu sử tóm tắt của những người ứng cử và những người tự ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân đến Ban Thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc cùng cấp;

- Giải quyết những khiếu nại, tố cáo về công tác bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân của các Ban bầu cử, Tổ bầu cử;

- Công bố số đơn vị bầu cử, danh sách các đơn vị và số đại biểu được bầu của mỗi đơn vị bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân ở địa phương mình;

- Nhận hồ sơ và công bố danh sách những người ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân theo từng đơn vị bầu cử; giải quyết những khiếu nại, kiến nghị về việc lập danh sách đó;

- Nhận tài liệu và phiếu bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân từ Uỷ ban nhân dân cùng cấp và phân phối cho các Ban bầu cử chậm nhất là hai mươi lăm ngày trước ngày bầu cử;

- Nhận và kiểm tra biên bản xác định kết quả bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân do các Ban bầu cử gửi đến; làm biên bản tổng kết cuộc bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân ở địa phương;

- Chỉ đạo việc bầu cử thêm, bầu cử lại đại biểu Hội đồng nhân dân theo quy định tại các điều 62, 63, 64 và 65 của Luật Bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân và Điều 2 Luật sửa đổi, bổ sung năm 2010;

- Công bố kết quả bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân;

- Trình Hội đồng nhân dân cùng cấp và cấp trên trực tiếp biên bản tổng kết cuộc bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân và chuyển giao các hồ sơ, tài liệu về cuộc bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân theo quy định của Luật Bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân;

- Tổng kết cuộc bầu cử tại địa phương

- Gửi báo cáo tổng kết cuộc bầu cử tới các cơ quan hữu quan cùng cấp và cấp trên theo quy định tại Khoản 3 Điều 26 Nghị quyết số 1020/2011/UBTVQH12 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội.

Câu hỏi 78: Thành phần, số lượng thành viên các Tổ bầu cử được quy định như thế nào?

Trả lời: Theo Khoản 6 Điều 2 Luật sửa đổi, bổ sung năm 2010, Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn sau khi thống nhất với Thường trực Hội đồng nhân dân và Ban Thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc cùng cấp quyết định thành lập ở mỗi khu vực bỏ phiếu một Tổ bầu cử để thực hiện công tác bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp.

Thời hạn thành lập Tổ bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp chậm nhất là ba mươi lăm ngày trước ngày bầu cử.

Thành phần Tổ bầu cử gồm đại diện đại diện cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, tập thể cử tri ở địa phương.

 Số lượng thành viên Tổ bầu cử có từ mười một đến hai mươi mốt người.

 Tổ bầu cử gồm Tổ trưởng, Tổ phó, Thư ký và các Uỷ viên.

 Đối với những nơi không có đơn vị hành chính xã, phường, thị trấn thì Uỷ ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh sau khi thống nhất với Thường trực Hội đồng nhân dân và Ban Thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc cùng cấp quyết định thành lập ở mỗi khu vực bỏ phiếu một Tổ bầu cử từ mười một đến hai mươi mốt người gồm Tổ trưởng, Tổ phó, Thư ký và các Uỷ viên là đại diện cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, tập thể cử tri ở địa phương.

Đơn vị vũ trang nhân dân thành lập ở mỗi khu vực bỏ phiếu của mình một Tổ bầu cử từ năm đến chín người gồm Tổ trưởng, Tổ phó, Thư ký và các Uỷ viên là đại diện Chỉ huy đơn vị và đại diện quân nhân.

Trong trường hợp đơn vị vũ trang nhân dân và địa phương có chung một khu vực bỏ phiếu thì Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn sau khi thống nhất với Thường trực Hội đồng nhân dân, Ban Thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc cùng cấp và Chỉ huy đơn vị vũ trang nhân dân quyết định thành lập Tổ bầu cử từ mười một đến hai mươi mốt người gồm Tổ trưởng, Tổ phó, Thư ký và các Uỷ viên là đại diện cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, tập thể cử tri ở địa phương, đại diện Chỉ huy đơn vị, đại diện quân nhân.

Câu hỏi 79: Nhiệm vụ, quyền hạn của Tổ bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân theo Luật sửa đổi, bổ sung năm 2010 được quy định như thế nào?

Trả lời: Theo khoản 6, Điều 1 và khoản 6, Điều 2 Luật sửa đổi, bổ sung năm 2010 nhiệm vụ, quyền hạn của Tổ bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân được quy định như sau:

- Phụ trách công tác bầu cử trong khu vực bỏ phiếu;

- Bố trí phòng bỏ phiếu, chuẩn bị hòm phiếu;

- Nhận tài liệu và phiếu bầu từ Ban bầu cử; phát thẻ cử tri, phiếu bầu có đóng dấu của Tổ bầu cử cho cử tri;

- Thường xuyên thông báo cho cử tri biết ngày bầu cử, nơi bỏ phiếu, thời gian bỏ phiếu trong thời hạn mười ngày trước ngày bầu cử;

- Bảo đảm thực hiện nghiêm chỉnh nội quy phòng bỏ phiếu;

- Giải quyết khiếu nại, tố cáo về công tác bầu cử do mình phụ trách;

- Kiểm phiếu và làm biên bản kết quả kiểm phiếu để gửi đến Ban bầu cử;

- Giao biên bản kết quả kiểm phiếu và toàn bộ phiếu bầu cho Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn;

- Báo cáo tình hình tổ chức và tiến hành bầu cử theo quy định của các tổ chức phụ trách bầu cử cấp trên;

- Tổ chức thực hiện việc bầu cử lại, bầu cử thêm.

Câu hỏi 80: Mối quan hệ giữa các tổ chức phụ trách bầu cử đại biểu Quốc hội với bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp được quy định như thế nào?

Trả lời: Trong các nhiệm kỳ trước đây, các cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân được tiến hành riêng. Năm 2011, cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân được tiến hành chung một ngày. Do đó, quy định về các tổ chức phụ trách bầu cử có một số điểm mới:

+ Thành lập các tổ chức phụ trách bầu cử chung để thực hiện công tác bầu cử đại biểu Quốc hội và bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp:

Để thống nhất chỉ đạo, căn cứ quy định của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội, Luật Bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân và Luật sửa đổi, bổ sung năm 2010, ba tổ chức bầu cử được thành lập để lãnh đạo và thực hiện chung cuộc bầu cử.

 - Tại Trung ương thành lập Hội đồng bầu cử để chỉ đạo bầu cử trong phạm vi cả nước.

 - Tại các tỉnh (thành phố trực thuộc Trung ương) thành lập Uỷ ban bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh để lãnh đạo, tổ chức thực hiện công tác bầu cử trong phạm vi cả tỉnh (thành phố trực thuộc Trung ương); thành lập Tổ bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân để thực hiện công tác bầu cử trong phạm vi khu vực bỏ phiếu.

Uỷ ban bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân ở cấp tỉnh và Tổ bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân hoạt động theo quy định của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội, Luật Bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân và Luật sửa đổi, bổ sung năm 2010.

Hai tổ chức này có mối liên hệ với tất cả các tổ chức phụ trách bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân trên địa bàn tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.

+ Thành lập các tổ chức phụ trách bầu cử riêng để thực hiện công tác bầu cử đại biểu Quốc hội và bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp:

     - Tổ chức phụ trách công tác bầu cử đại biểu Quốc hội:

Thành lập Ban bầu cử đại biểu Quốc hội tại mỗi đơn vị bầu cử đại biểu Quốc hội.

Ban bầu cử tại mỗi đơn vị bầu cử đại biểu Quốc hội chỉ tổ chức thực hiện công tác bầu cử đại biểu Quốc hội tại đơn vị bầu cử mình phụ trách.

     - Tổ chức phụ trách công tác bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp:

Thành lập Uỷ ban bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp huyện  để thực hiện công tác bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp huyện;

Thành lập Uỷ ban bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp xã để thực hiện công tác bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp xã;

Uỷ ban bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp huyện, cấp xã chỉ tổ chức thực hiện công tác bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân tại cấp bầu cử mình phụ trách.

Thành lập Ban bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh ở mỗi đơn vị bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh để thực hiện công tác bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh.

Thành lập Ban bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp huyện ở mỗi đơn vị bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp huyện để thực hiện công tác bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp huyện.

Thành lập Ban bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp xã ở mỗi đơn vị bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp xã để thực hiện công tác bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp xã.

Ban bầu cử tại mỗi đơn vị bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã chỉ tổ chức thực hiện công tác bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân  tại đơn vị bầu cử mình phụ trách.

Câu hỏi 81: Việc thành lập các Tổ bầu cử tại nơi không có đơn vị hành chính xã, phường, thị trấn được quy định như thế nào?

Trả lời: Đối với những nơi không có đơn vị hành chính xã, phường, thị trấn thì Uỷ ban nhân dân cấp huyện sau khi thống nhất với Thường trực Hội đồng nhân dân và Ban Thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc cùng cấp quyết định thành lập ở mỗi khu vực bỏ phiếu một Tổ bầu cử từ mười một đến hai mươi mốt người gồm Tổ trưởng, Tổ phó, Thư ký và các Uỷ viên là đại diện cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, tập thể cử tri ở địa phương.

Câu hỏi 82: Việc phân công trong thành viên các tổ chức phụ trách bầu cử được quy định như thế nào?

Trả lời: Theo Điều 8 Thông tư hướng dẫn số 05/2011/TT-BNV của Bộ Nội vụ: 

* Việc phân công nhiệm vụ đối với thành viên các tổ chức phụ trách bầu cử  đại biểu Quốc hội và bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân được quy định như sau:

+ Đối với Uỷ ban bầu cử đại biểu Quốc hội và bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh.

- Chủ tịch Uỷ ban bầu cử đại biểu Quốc hội và bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh phụ trách chung. Chủ tịch Uỷ ban bầu cử phân công các Phó Chủ tịch phụ trách các địa bàn hoặc lĩnh vực công tác (bầu cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân, công tác hiệp thương) phù hợp với yêu cầu công tác bầu cử; Thư ký phụ trách tổng hợp chung;

- Các thành viên còn lại phân thành nhóm thành viên phụ trách công tác bầu cử đại biểu Quốc hội và nhóm thành viên phụ trách công tác bầu cử đại biểu Hội đồng nhân;

- Việc phân công nhiệm vụ, quyền hạn đối với thành viên ở mỗi nhóm do Chủ tịch Uỷ ban bầu cử quyết định.

        + Đối với Tổ bầu cử đại biểu Quốc hội và bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân:

- Tổ trưởng phụ trách chung, một Tổ phó phụ trách công tác bầu cử đại biểu Quốc hội, một Tổ phó phụ trách công tác bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân và một Thư ký phụ trách tổng hợp chung;

- Các thành viên còn lại phân thành nhóm thành viên phụ trách công tác bầu cử đại biểu Quốc hội và nhóm thành viên phụ trách công tác bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân;

- Việc phân công nhiệm vụ, quyền hạn của thành viên ở mỗi nhóm do Tổ trưởng Tổ bầu cử quyết định.

* Việc phân công nhiệm vụ đối với thành viên các tổ chức phụ trách bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân:

Người đứng đầu các tổ chức phụ trách bầu cử gồm Chủ tịch Uỷ ban bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp huyện, cấp xã;  Trưởng ban Ban bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã chịu trách nhiệm phân công nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể của từng thành viên tổ chức phụ trách bầu cử cấp mình.

 

Mục 3
DANH SÁCH CỬ TRI

Câu hỏi 83: Công dân có đủ điều kiện theo quy định của luật có được tham gia bầu cử tất cả các cấp Hội đồng nhân dân hay không?

Trả lời: Theo Điều 2 Nghị quyết số 1020/2011/UBTVQH12 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, việc lập danh sách cử tri, niêm yết danh sách cử tri theo quy định tại các điều các điều 22, 24 và 27 của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và các điều 23,24 của Luật Bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2003:

“Công dân nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam không phân biệt dân tộc, nam nữ, thành phần xã hội, tín ngưỡng, tôn giáo, trình độ văn hoá, nghề nghiệp, đủ mười tám tuổi trở lên và không thuộc các trường hợp không được ghi tên, xóa tên hoặc bổ sung tên vào danh sách cử tri (thực hiện theo quy định tại Điều 23 của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội, Điều 25 của Luật Bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân) thì được ghi tên vào danh sách cử tri tại xã, phường, thị trấn nơi đã đăng ký thường trú và thực hiện quyền bầu cử tại nơi đó.”

Tuy nhiên, tuỳ từng trường hợp, công dân có đủ điều kiện như trên nhưng chỉ có thể được bầu một cấp, hai cấp hay cả ba cấp đại biểu Hội đồng nhân dân; đặc biệt có người chỉ được bầu đại biểu Quốc hội mà không được bầu đại biểu Hội đồng nhân dân cấp nào.

Câu hỏi 84: Những trường hợp nào cử tri được bầu đại biểu Hội đồng nhân dân một cấp?

Trả lời: Theo Điều 2 Nghị quyết số 1020/2011/UBTVQH12 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, việc lập danh sách cử tri, niêm yết danh sách cử tri theo quy định tại các điều các điều 22, 24 và 27 của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và các điều 23,24 của Luật Bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2003, những trường hợp cử tri được bầu đại biểu Quốc hội và bầu đại biểu Hội đồng nhân dân một cấp (cấp tỉnh) được quy định như sau:

a) Đối với những người có giấy chứng nhận chuyển đi của cơ quan có thẩm quyền ở nơi cư trú cũ (bao gồm cả cán bộ, công chức, viên chức, cán bộ, chiến sĩ thuộc đơn vị vũ trang nhân dân đang đi công tác và những người di cư tự do, đi lao động, làm việc, đi thăm người thân, đi du lịch):

- Khoản 2 Điều 2 Nghị quyết số 1020/2011/UBTVQH12 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định: Trong thời gian lập danh sách cử tri, những đối tượng trên thay đổi nơi cư trú trong phạm vi một đơn vị hành chính cấp tỉnh được ghi tên vào danh sách cử tri để bầu đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân một cấp (cấp tỉnh).

- Những đối tượng trên thay đổi nơi cư trú trong phạm vi một đơn vị hành chính huyện (hoặc quận) có tên trong Nghị quyết số 724/2009/ UBTVQH12 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội (sau đây gọi là Nghị quyết số 724/2009/UBTVQH12), là những huyện, quận  thực hiện thí điểm không tổ chức Hội đồng nhân dân thì được ghi tên vào danh sách cử tri để bầu đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân một cấp (cấp tỉnh).

b) Đối với những người có hộ khẩu thường trú tại phường thuộc quận có tên trong Nghị quyết số 724/2009/UBTVQH12 được ghi tên vào danh sách cử tri và nhận Thẻ cử tri để được bầu đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân một cấp (cấp tỉnh).

c) Đối với những người tạm trú trên 06 tháng tại phường thuộc quận có tên trong Nghị quyết số 724/2009/UBTVQH12 được ghi tên vào danh sách cử tri và nhận Thẻ cử tri để được bầu đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân một cấp (cấp tỉnh).

d) Đối với công dân Việt Nam công tác, lao động, học tập, du lịch, thăm người thân hoặc định cư ở nước ngoài trở về Việt Nam trong khoảng thời gian từ sau khi danh sách cử tri đã được niêm yết đến trước thời điểm bắt đầu bỏ phiếu hai mươi bốn giờ, nếu xuất trình Hộ chiếu có ghi quốc tịch Việt Nam tại nơi đăng ký thường trú là tại phường thuộc quận có tên trong Nghị quyết số 724/2009/UBTVQH12 được ghi tên vào danh sách cử tri và nhận Thẻ cử tri để được bầu đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân một cấp (cấp tỉnh).

đ) Đối với công dân Việt Nam công tác, lao động, học tập, du lịch, thăm người thân hoặc định cư ở nước ngoài trở về Việt Nam trong Khoảng thời gian từ sau khi danh sách cử tri đã được niêm yết đến trước thời điểm bắt đầu bỏ phiếu hai mươi bốn giờ, nếu xuất trình Hộ chiếu có ghi quốc tịch Việt Nam tại nơi đăng ký tạm trú là tại phường thuộc quận có tên trong Nghị quyết số 724/2009/UBTVQH12 được ghi tên vào danh sách cử tri và nhận Thẻ cử tri để được bầu đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân một cấp (cấp tỉnh).

Câu hỏi 85: Những trường hợp nào cử tri được bầu đại biểu Hội đồng nhân dân hai cấp?

Trả lời: Theo Điều 2 Nghị quyết số 1020/2011/UBTVQH12 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, việc lập danh sách cử tri, niêm yết danh sách cử tri theo quy định tại các điều 22, 24 và 27 của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và các điều 23,24 của Luật Bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2003, những trường hợp cử tri được bầu đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân hai cấp (cấp tỉnh và cấp huyện) được quy định như sau:

a) Đối với những người có giấy chứng nhận chuyển đi của cơ quan có thẩm quyền ở nơi cư trú cũ (bao gồm cả cán bộ, công chức, viên chức, cán bộ, chiến sĩ thuộc đơn vị vũ trang nhân dân đang đi công tác và những người di cư tự do, đi lao động, làm việc, đi thăm người thân, đi du lịch):

 Khoản 2 và Khoản 5 Điều 2 Nghị quyết số 1020/2011/UBTVQH12 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định: Trong thời gian lập danh sách cử tri, những đối tượng trên thay đổi nơi cư trú trong phạm vi một đơn vị hành chính cấp huyện được ghi tên vào danh sách cử tri để bầu đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân hai cấp (cấp tỉnh và cấp huyện).

b) Đối với sinh viên, học sinh, học viên có sổ tạm trú ở các trường chuyên nghiệp, trường đại học, trường cao đẳng, trường trung học chuyên nghiệp và quân nhân ở các đơn vị vũ trang nhân dân:

Khoản 3 và Khoản 4 Điều 2 Nghị quyết số 1020/2011/UBTVQH12 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định:

- Sinh viên, học sinh, học viên có sổ tạm trú ở các trường chuyên nghiệp, trường đại học, trường cao đẳng, trường trung học chuyên nghiệp và quân nhân ở các đơn vị vũ trang nhân dân được ghi tên vào danh sách cử tri ở nơi học tập, công tác hoặc nơi đóng quân để tham gia bầu cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân hai cấp (cấp tỉnh và cấp huyện);

- Cử tri là người lao động tại các khu công nghiệp tập trung, các doanh nghiệp có đăng ký tạm trú, lưu trú thì được ghi tên vào danh sách cử tri để tham gia bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân hai cấp (cấp tỉnh và cấp huyện).

c) Đối với những người có hộ khẩu thường trú tại phường thuộc thị xã, thành phố thuộc tỉnh có tên trong Nghị quyết số 724/2009/UBTVQH12 (là những phường thực hiện thí điểm không tổ chức Hội đồng nhân dân) được ghi tên vào danh sách cử tri và nhận Thẻ cử tri để được bầu đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân hai cấp (cấp tỉnh và cấp huyện).

d) Đối với những người có hộ khẩu thường trú tại xã, thị trấn thuộc huyện có tên trong Nghị quyết số 724/2009/UBTVQH12 (là những huyện thực hiện thí điểm không tổ chức Hội đồng nhân dân nhưng xã, thị trấn trực thuộc huyện vẫn bầu cử) được ghi tên vào danh sách cử tri và nhận Thẻ cử tri để được bầu đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân hai cấp (cấp tỉnh và cấp xã).

đ) Đối với những người tạm trú trên 06 tháng tại xã (phường, thị trấn) theo Điểm c, Khoản 1 Điều 14 Nghị định 19/2004/NĐ-CP được ghi tên vào danh sách cử tri và nhận Thẻ cử tri để được bầu đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân hai cấp (cấp tỉnh và cấp huyện).

e) Đối với công dân Việt Nam công tác, lao động, học tập, du lịch, thăm người thân hoặc định cư ở nước ngoài trở về Việt Nam trong khoảng thời gian từ sau khi danh sách cử tri đã được niêm yết đến trước thời điểm bắt đầu bỏ phiếu hai mươi bốn giờ (nếu xuất trình Hộ chiếu có ghi quốc tịch Việt Nam tại nơi đăng ký tạm trú): 

- Khoản 6 Điều 2 Nghị quyết số 1020/2011/UBTVQH12 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định: Những người thuộc đối tượng trên đến Uỷ ban nhân dân cấp xã (nơi vẫn tổ chức Hội đồng nhân dân) xuất trình Hộ chiếu có ghi quốc tịch Việt Nam để ghi tên vào danh sách cử tri và nhận Thẻ cử tri để được bầu đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân hai cấp (cấp tỉnh và cấp huyện). 

- Nếu những người thuộc đối tượng trên đến Uỷ ban nhân dân phường thuộc thuộc thị xã, thành phố thuộc tỉnh có tên trong Nghị quyết số 724/2009/UBTVQH12 (nơi thí điểm không tổ chức Hội đồng nhân dân) xuất trình Hộ chiếu có ghi quốc tịch Việt Nam để ghi tên vào danh sách cử tri và nhận Thẻ cử tri để được bầu đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân hai cấp (cấp tỉnh và cấp huyện). 

g) Công dân Việt Nam công tác, lao động, học tập, du lịch, thăm người thân hoặc định cư ở nước ngoài trở về Việt Nam trong khoảng thời gian từ sau khi danh sách cử tri đã được niêm yết đến trước thời điểm bắt đầu bỏ phiếu hai mươi bốn giờ, nếu xuất trình Hộ chiếu có ghi quốc tịch Việt Nam tại nơi đăng ký thường trú là xã (thị trấn) thuộc huyện có tên trong Nghị quyết số 724/2009/UBTVQH12 (là những huyện thực hiện thí điểm không tổ chức Hội đồng nhân dân) được ghi tên vào danh sách cử tri và nhận Thẻ cử tri để được bầu đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân hai cấp (cấp tỉnh và cấp xã).

Câu hỏi 86: Những trường hợp nào cử tri được bầu đại biểu Hội đồng nhân dân ba cấp?

Trả lời: Theo Điều 2 Nghị quyết số 1020/2011/UBTVQH12 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, việc lập danh sách cử tri, niêm yết danh sách cử tri theo quy định tại các điều 22, 24 và 27 của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và các điều 23, 24 của Luật Bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2003, những trường hợp cử tri được bầu đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân ba cấp được quy định như sau:

- Cử tri có hộ khẩu thường trú tại các xã, phường, thị trấn mà tại các đơn vị hành chính này vẫn tổ chức Hội đồng nhân dân, không thuộc phạm vi điều chỉnh của Nghị quyết số 724/2009/UBTVQH12):

Những người thuộc đối tượng trên được ghi tên vào danh sách cử tri do Uỷ ban nhân dân cấp xã lập và nhận Thẻ cử tri để được bầu đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân ba cấp (cấp tỉnh, cấp huyện và cấp xã). 

- Công dân Việt Nam công tác, lao động, học tập, du lịch, thăm người thân hoặc định cư ở nước ngoài trở về Việt Nam trong khoảng thời gian từ sau khi danh sách cử tri đã được niêm yết đến trước thời điểm bắt đầu bỏ phiếu hai mươi bốn giờ (nếu xuất trình Hộ chiếu có ghi quốc tịch Việt Nam tại nơi đăng ký thường trú): 

Khoản 6 Điều 2 Nghị quyết số 1020/2011/UBTVQH12 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định: Những người thuộc đối tượng trên đến Uỷ ban nhân dân cấp xã (các xã, phường, thị trấn này vẫn tổ chức Hội đồng nhân dân, không thuộc phạm vi điều chỉnh của Nghị quyết số 724/2009/ UBTVQH12) xuất trình Hộ chiếu có ghi quốc tịch Việt Nam để ghi tên vào danh sách cử tri và nhận Thẻ cử tri để được bầu đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân ba cấp (cấp tỉnh, cấp huyện và cấp xã). 

Câu hỏi 87: Những trường hợp nào cử tri được bầu đại biểu Quốc hội mà không được bầu đại biểu Hội đồng nhân dân ba cấp?

Trả lời: Theo Điều 2 Nghị quyết số 1020/2011/UBTVQH12 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, việc lập danh sách cử tri, niêm yết danh sách cử tri theo quy định tại các điều các điều 22, 24 và 27 của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và các điều 23,24 của Luật Bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2003, những trường hợp cử tri chỉ được bầu đại biểu Quốc hội, không được tham gia bầu đại biểu Hội đồng nhân dân cả ba cấp (cấp tỉnh, cấp huyện và cấp xã) được quy định như sau:

- Đối với những người có giấy chứng nhận chuyển đi của cơ quan có thẩm quyền ở nơi cư trú cũ (bao gồm cả cán bộ, công chức, viên chức, cán bộ, chiến sĩ thuộc đơn vị vũ trang nhân dân đang đi công tác và những người di cư tự do, đi lao động, làm việc, đi thăm người thân, đi du lịch):

 Khoản 2 Điều 2 Nghị quyết số 1020/2011/UBTVQH12 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định: Trong thời gian lập danh sách cử tri, những đối tượng trên thay đổi nơi cư trú đến đơn vị hành chính cấp tỉnh khác thì được ghi tên vào danh sách cử tri để bầu đại biểu Quốc hội.

- Đối với những người tạm trú tại xã (phường, thị trấn) dưới 06 tháng:

Điều 14 Nghị định số 19 /2004/NĐ-CP quy định, những người đã đăng ký tạm trú từ sáu tháng trở lên ở nơi cư trú mới thì được ghi tên vào danh sách cử tri tại địa phương nơi cư trú mới để thực hiện quyền bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân.

Như vậy, những đối tượng quy định tại Điểm a và b trên đây chỉ bầu đại biểu Quốc hội mà không bầu đại biểu Hội đồng nhân dân cả ba cấp (cấp tỉnh, cấp huyện và cấp xã) của đơn vị hành chính cấp tỉnh khác mới chuyển tới trong thời gian lập danh sách cử tri.

 

Mục 4
TUYÊN TRUYỀN
VÀ VẬN ĐỘNG BẦU CỬ

Câu hỏi 88: Mục đích, yêu cầu và nguyên tắc của vận động bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân quy định như thế nào?

Trả lời:

+ Theo Điều 11 Nghị quyết số 1020/2011/UBTVQH12 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội và  các điều 45, 46 và 47 của Luật Bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân, các điều 17,18 Nghị định số 19/2004/NĐ-CP quy định chi tiết Điều 46 của Luật Bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân, vận động bầu cử của người ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân là hoạt động gặp gỡ, tiếp xúc của người ứng cử với cử tri nơi công tác, nơi cư trú hoặc thông qua phương tiện thông tin đại chúng để người ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân báo cáo với cử tri về dự kiến chương trình hành động của mình nhằm thực hiện trách nhiệm của người đại biểu nếu được bầu làm đại biểu Hội đồng nhân dân và trao đổi những vấn đề mà cử tri quan tâm.

+ Việc tổ chức vận động bầu cử có mục đích như sau:

- Tạo điều kiện cho người ứng cử gặp gỡ, tiếp xúc với cử tri để báo cáo với cử tri dự kiến chương trình hành động của mình nếu được bầu làm đại biểu;

- Tạo điều kiện để cử tri tiếp xúc với người ứng cử, hiểu rõ hơn người ứng cử; trên cơ sở đó cân nhắc, lựa chọn, bầu những người đủ tiêu chuẩn làm đại biểu Hội đồng nhân dân;

+ Việc tổ chức vận động bầu cử phải đảm bảo các yêu cầu sau đây:

- Công khai, dân chủ, bình đẳng và xây dựng trong vận động bầu cử, tạo không khí trao đổi thẳng thắn, cởi mở giữa người ứng cử và cử tri;

- Không được lợi dụng vận động bầu cử để tuyên truyền trái với Hiến pháp và pháp luật hoặc làm tổn hại đến danh dự, uy tín và quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân khác;

- Không biến vận động bầu cử thành nơi để khiếu nại, tố cáo hoặc giải quyết khiếu nại, tố cáo;

- Không được lợi dụng vận động bầu cử để vận động tài trợ, quyên góp ở trong nước và ngoài nước cho tổ chức, cá nhân mình;

- Không được sử dụng tiền, tài sản Nhà nước, tập thể và cá nhân để lôi kéo, mua chuộc cử tri;

- Bảo đảm an ninh, trật tự, an toàn xã hội trong quá trình vận động bầu cử.

+ Vận động bầu cử được tiến hành theo các nguyên tắc:

- Người ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân ở địa phương nào thực hiện quyền vận động bầu cử trong phạm vi địa phương đó.

- Việc vận động bầu cử được tiến hành công khai, dân chủ, bình đẳng, đúng pháp luật, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội và phải kết thúc trước khi bắt đầu cuộc bỏ phiếu hai mươi bốn giờ.

- Người ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân không được lợi dụng vận động bầu cử để tuyên truyền những quan điểm trái với Hiến pháp, pháp luật hoặc làm tổn hại đến uy tín, danh dự và lợi ích của tổ chức và cá nhân khác.

- Người ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân không được sử dụng tiền, phương tiện vật chất khác của Nhà nước, tập thể và cá nhân để lôi kéo, mua chuộc cử tri.

- Cơ quan, tổ chức, đơn vị và cá nhân không được lợi dụng vận động bầu cử để quyên góp tiền, phương tiện vật chất hoặc kêu gọi tài trợ để phục vụ cho việc vận động bầu cử.

Câu hỏi 89: Cơ quan tổ chức nào chỉ đạo công tác thông tin, tuyên truyền và vận động bầu cử?

Trả lời: Theo Khoản 9 Điều 2 Luật sửa đổi, bổ sung năm 2010, Hội đồng bầu cử chỉ đạo công tác thông tin, tuyên truyền và vận động bầu cử trong phạm vi cả nước. Các Ủy ban bầu cử chỉ đạo công tác thông tin, tuyên truyền và vận động bầu cử tại địa phương mình.

Theo Điểm 1 Chỉ thị số 192/CT-TTg ngày 30 tháng 01 năm 2011 của Thủ tướng Chính phủ về việc tổ chức cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khoá XIII và bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2011-2016, Bộ Thông tin và Truyền thông chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan có kế hoạch chỉ đạo cụ thể và hướng dẫn các cơ quan truyền thông ở Trung ương và địa phương tổ chức thông tin, tuyên truyền cho cuộc bầu cử.

Câu hỏi 90: Vận động bầu cử do cơ quan, đơn vị nào tổ chức? Vận động bầu cử được tiến hành dưới hình thức nào?

Trả lời: Theo quy định tại Điều 46 của Luật Bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân, việc vận động bầu cử, gặp gỡ, tiếp xúc cử tri do Ban thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp bầu cử phối hợp với Thường trực Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân cùng cấp tổ chức.

Theo quy định tại Điều 19 của Nghị định số 19/2004/NĐ-CP, các hình thức vận động bầu cử bao gồm:

- Gặp gỡ, tiếp xúc với cử tri thông qua hội nghị tiếp xúc cử tri do Ban thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc các cấp ở địa phương tổ chức;

- Gặp gỡ, tiếp xúc với cử tri ở cơ quan, tổ chức, đơn vị nơi người ứng cử công tác;

- Trả lời phỏng vấn trên báo chí, phát thanh, truyền hình địa phương.

Câu hỏi 91: Nội dung vận động bầu cử của người ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân được quy định như thế nào?

Trả lời: Theo Điều 13 Nghị quyết số 1020/2011/UBTVQH12 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội và Điều 19 của Nghị định 19/2004/NĐ-CP, nội dung vận động bầu cử của người ứng cử bao gồm:

- Trình bày dự kiến chương trình hoạt động của mình nếu được bầu làm đại biểu Hội đồng nhân dân.

- Người ứng cử trình bày ý kiến của mình về vai trò, nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của đại biểu Hội đồng nhân dân.

- Trao đổi với cử tri những vấn đề cùng quan tâm.

- Trả lời các câu hỏi của cử tri.

Câu hỏi 92: Trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, đơn vị trong vận động bầu cử được quy định như thế nào?

Trả lời: Theo Điều 14 Nghị quyết số 1020/2011/UBTVQH12 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội và Điều 20 của Nghị định 19/2004/NĐ-CP, trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, đơn vị trong vận động bầu cử cụ thể như sau:

- Các cơ quan báo chí ở Trung ương có trách nhiệm đưa tin về tình hình vận động bầu cử trong phạm vi cả nước, đưa tin về hoạt động của lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong quá trình tổ chức bầu cử;

- Uỷ ban bầu cử chỉ đạo công tác vận động bầu cử và giải quyết các khiếu nại, tố cáo về vận động bầu cử ở địa phương.

- Ban Thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc cấp bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân tổ chức hội nghị tiếp xúc cử tri cho người ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp mình.

- Uỷ ban nhân dân cùng cấp có trách nhiệm phối hợp với Ban Thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc cùng cấp trong việc tổ chức hội nghị tiếp xúc cử tri cho người ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân.

- Cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chức kinh tế, đơn vị vũ trang nhân dân và chính quyền địa phương các cấp trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình tạo điều kiện cho người ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân tiếp xúc với cử tri ở cơ quan, tổ chức, đơn vị, địa phương mình; bảo đảm cho việc tổ chức vận động bầu cử được tiến hành công khai, dân chủ, bình đẳng, đúng pháp luật.

- Các cơ quan thông tin đại chúng ở địa phương có trách nhiệm đưa tin về hội nghị tiếp xúc cử tri, trả lời phỏng vấn của những người ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân và tình hình vận động bầu cử ở địa phương theo hướng dẫn của cơ quan có thẩm quyền.

Câu hỏi 93: Vận động bầu cử trên các phương tiện thông tin đại chúng ở địa phương được quy định như thế nào?

Trả lời: Theo Điều 14 Nghị quyết số 1020/2011/UBTVQH12 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, người ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân tiếp xúc cử tri, trả lời phỏng vấn trên các phương tiện thông tin đại chúng ở địa phương và trên trang thông tin điện tử về bầu cử của Uỷ ban bầu cử (nếu có) để trình bày với cử tri về dự kiến chương trình hành động của mình nếu được bầu làm đại biểu Hội đồng nhân dân.

Hội đồng bầu cử, Uỷ ban bầu cử có trách nhiệm chỉ đạo cơ quan quản lý trang thông tin điện tử thực hiện đúng các quy định của pháp luật về việc đăng tải nội dung vận động bầu cử.

Trên cơ sở chỉ đạo của Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, Sở Thông tin và Truyền thông cùng cấp tổ chức việc đăng tải nội dung phỏng vấn từng người ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân trên các phương tiện thông tin đại chúng của địa phương, bảo đảm bình đẳng, đúng pháp luật, công bằng giữa những người ứng cử, tuân thủ các quy định về vận động bầu cử.

 

Mục 5
TRÌNH TỰ BẦU CỬ

Câu hỏi 94: Điểm mới về thời hạn chậm nhất kết thúc cuộc bầu cử được quy định như thế nào?

Trả lời: Khoản 10 Điều 2 Luật sửa đổi, bổ sung năm 2010 thống nhất thời hạn chậm nhất kết thúc cuộc bầu cử không được quá mười giờ đêm và bỏ quy định khu vực bỏ phiếu nào đã có một trăm phần trăm số cử tri đi bầu thì Tổ bầu cử đó có thể kết thúc cuộc bỏ phiếu sớm hơn.

 

II. BẦU CỬ ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI
VÀ ĐẠI BIỂU HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN
TẠI CÁC ĐỊA PHƯƠNG THỰC HIỆN THÍ ĐIỂM
KHÔNG TỔ CHỨC HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN
HUYỆN, QUẬN, PHƯỜNG

Câu hỏi 95: Tại các huyện, quận, phường của các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đang thực hiện thí điểm không tổ chức Hội đồng nhân dân thì tiến hành bầu cử đại biểu những cấp nào, những cấp nào không bầu cử?

Trả lời:

1. Tại các huyện, phường của các tỉnh đang thực hiện thí điểm

- Tại các huyện của 07 tỉnh đang thực hiện thí điểm không tổ chức Hội đồng nhân dân huyện, phường ( bao gồm Lào Cai, Vĩnh Phúc, Nam Định, Quảng Trị, Phú Yên, Bà Rịa- Vũng Tàu và Kiên Giang) chỉ tiến hành bầu cử đại biểu Quốc hội và bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh, đại biểu Hội đồng nhân dân xã, thị trấn thuộc huyện nhiệm kỳ 2011-2016; không tiến hành bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân huyện nhiệm kỳ 2011-2016.

Riêng các huyện Cồn Cỏ (tỉnh Quảng Trị), Côn Đảo (tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu), Kiên Lương và Giang Thành (tỉnh Kiên Giang) vẫn tiến hành bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân huyện nhiệm kỳ 2011-2016 do không thực hiện thí điểm.

- Tại các phường đang thực hiện thí điểm không tổ chức Hội đồng nhân dân của 07 tỉnh trên, chỉ tiến hành bầu cử đại biểu Quốc hội và bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh, đại biểu Hội đồng nhân dân thị xã, thành phố thuộc tỉnh nhiệm kỳ 2011-2016, không tiến hành bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân phường nhiệm kỳ 2011-2016. Riêng tại các phường của thị xã Sông Cầu (tỉnh Phú Yên) vẫn tiến hành bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân phường nhiệm kỳ 2011-2016 do không thực hiện thí điểm.

2. Tại các huyện, quận, phường của các thành phố trực thuộc Trung ương đang thực hiện thí điểm

Tại các quận và phường thuộc quận của 03 thành phố trực thuộc Trung ương đang thực hiện thí điểm không tổ chức Hội đồng nhân dân huyện, quận, phường, bao gồm: Thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Hải Phòng tiến hành bầu cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân thành phố nhiệm kỳ 2011-2016, không tiến hành bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân quận, phường nhiệm kỳ 2011-2016.

Tại các huyện đang thực hiện thí điểm không tổ chức Hội đồng nhân dân của 03 thành phố trực thuộc Trung ương trên tiến hành bầu cử đại biểu Quốc hội và bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân thành phố, đại biểu Hội đồng nhân dân xã, thị trấn thuộc huyện nhiệm kỳ 2011-2016, không tiến hành bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân huyện nhiệm kỳ 2011-2016. Riêng huyện Bạch Long Vỹ (thành phố Hải Phòng) vẫn tiến hành bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân huyện nhiệm kỳ 2011-2016 do không thực hiện thí điểm.

Câu hỏi 96: Việc thành lập các tổ chức phụ trách bầu cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội dồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2011-2016 tại các huyện, quận, phường đang thực hiện thí điểm không tổ chức Hội đồng nhân dân được thực hiện như thế nào?

Trả lời: Tại các huyện, quận, phường đang thực hiện thí điểm không tổ chức Hội đồng nhân dân thì không thành lập Uỷ ban bầu cử, Ban bầu cử để bầu đại biểu Hội đồng nhân dân huyện, quận, phường.

Các tổ chức phụ trách bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp khác vẫn được thành lập và thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của pháp luật hiện hành về bầu cử.

Câu hỏi 97: Thành lập các tổ chức phụ trách bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân xã, thị trấn thuộc các huyện đang thực hiện thí điểm không tổ chức Hội đồng nhân dân được thực hiện như thế nào?

Trả lời: Việc thành lập Uỷ ban bầu cử, Ban bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân xã, thị trấn thuộc các huyện đang thực hiện thí điểm không tổ chức Hội đồng nhân dân thực hiện theo quy định của Luật Bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân số 12/2003/QH11, Luật sửa đổi, bổ sung năm 2010.

Tuy nhiên, danh sách Uỷ ban bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân xã, thị trấn phải được báo cáo lên Uỷ ban nhân dân và Ban Thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc huyện.

Câu hỏi 98: Việc thành lập Tổ bầu cử để thực hiện công tác bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp tại phường thực hiện thí điểm không tổ chức Hội đồng nhân dân được thực hiện như thế nào?

Trả lời: Uỷ ban nhân dân phường sau khi thống nhất với Ban Thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc cùng cấp quyết định thành lập ở mỗi khu vực bỏ phiếu một Tổ bầu cử để thực hiện công tác bầu cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, đại biểu Hội đồng nhân dân thị xã, thành phố thuộc tỉnh.

Tổ bầu cử có từ mười một đến hai mươi mốt người gồm Tổ trưởng, Tổ phó, Thư ký và các ủy viên là đại diện cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị- xã hội, tổ chức xã hội, tập thể cử tri ở địa phương.

Nhiệm vụ và quyền hạn của Tổ bầu cử thực hiện theo quy định tại Khoản 6 Điều 1 và Khoản 6 Điều 2 của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và Luật Bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân số 63/2010/QH12.

Câu hỏi 99: Việc gửi biên bản Hội nghị hiệp thương, giới thiệu người ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân xã, thị trấn thuộc các huyện đang thực hiện thí điểm không tổ chức Hội đồng nhân dân được thực hiện như thế nào?

Trả lời: Sau khi kết thúc các Hội nghị hiệp thương, giới thiệu người ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân xã, thị trấn, biên bản hiệp thương phải được gửi ngay đến Uỷ ban nhân dân, Ban Thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc huyện và Thường trực Hội đồng nhân dân, Uỷ ban bầu cử cùng cấp.

Câu hỏi 100: Cơ quan, đơn vị nào triệu tập hội nghị cử tri để lấy ý kiến nhận xét những người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp tại các phường đang thực hiện thí điểm không tổ chức Hội đồng nhân dân?

Trả lời: Hội nghị cử tri ở phường đang thực hiện thí điểm để lấy ý kiến nhận xét những người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, đại biểu Hội đồng nhân dân thị xã, thành phố thuộc tỉnh tổ chức theo đơn vị tổ dân phố nơi cư trú thường xuyên của người ứng cử do Ban Thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc phường phối hợp với Uỷ ban nhân dân cùng cấp triệu tập và chủ trì.

Câu hỏi 101: Việc gửi biên bản xác định kết quả bầu cử, biên bản tổng kết và báo cáo tổng kết cuộc bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân xã, thị trấn thuộc các huyện thực hiện thí điểm không tổ chức Hội đồng nhân dân được thực hiện như thế nào?

Trả lời: Uỷ ban bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân xã, thị trấn thuộc các huyện thực hiện thí điểm không tổ chức Hội đồng nhân dân gửi biên bản xác định kết quả bầu cử, biên bản tổng kết và báo cáo tổng kết cuộc bầu cử đại biểu hội đồng nhân dân cấp mình đến Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân, Ban Thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc xã, thị trấn và Uỷ ban nhân dân, Ban Thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc huyện.

Câu hỏi 102: Số lượng đại biểu chuyên trách của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh tại các địa phương đang thực hiện thí điểm không tổ chức Hội đồng nhân dân huyện, quận, phường có điểm gì mới so với quy định hiện hành?

Trả lời: Theo Khoản 4, Điểm 3 của Quyết định số 215/QĐ-TTg ngày 16 tháng 02 năm 2011 của Thủ tướng Chính phủ về việc hướng dẫn cơ cấu thành phần và số lượng đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2011-2016 thì các địa phương đang thực hiện thí điểm không tổ chức Hội đồng nhân dân huyện, quận, phường được tăng thêm một Phó Trưởng ban chuyên trách tại các Ban của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh.

Bình luận