Mục 5
ỨNG CỬ ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI
Câu hỏi 34: Những ai có quyền bầu cử và ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân? Cách tính tuổi để thực hiện quyền bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân?
Trả lời:
+ Theo quy định tại Điều 2, Luật Bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân, công dân nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam không phân biệt dân tộc, nam nữ, thành phần xã hội, tín ngưỡng, tôn giáo, trình độ văn hoá, nghề nghiệp, thời hạn cư trú, đủ mười tám tuổi trở lên có quyền bầu cử và đủ hai mươi mốt tuổi trở lên có quyền ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân theo quy định của pháp luật.
+ Theo quy định tại Điều 1 Nghị quyết số 1020/2011/UBTVQH12 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, cách tính tuổi để thực hiện quyền bầu cử và ứng cử của công dân được thực hiện như sau:
- Tuổi để thực hiện quyền bầu cử và ứng cử của công dân được tính từ ngày, tháng, năm sinh ghi trong Giấy khai sinh đến ngày bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân đã được Uỷ ban Thường vụ Quốc hội ấn định (ngày 22 tháng 5 năm 2011). Trường hợp không có Giấy khai sinh thì căn cứ vào Sổ hộ khẩu hoặc Giấy chứng minh nhân dân để tính tuổi thực hiện quyền bầu cử, ứng cử.
Mỗi tuổi tròn được tính từ ngày, tháng, năm sinh dương lịch của năm trước đến ngày, tháng năm sinh dương lịch của năm sau.
- Trường hợp không xác định được ngày sinh thì lấy ngày 01 của tháng sinh làm căn cứ để xác định tuổi thực hiện quyền bầu cử và ứng cử. Trường hợp không xác định được ngày và tháng sinh thì lấy ngày 01 tháng 01 của năm sinh làm căn cứ để xác định tuổi thực hiện quyền bầu cử và ứng cử.
Câu hỏi 35: Quyền bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân của những công dân bị Toà án kết án tù nhưng được hưởng án treo được quy định như thế nào?
Trả lời: Khoản 1 Điều 25 Luật Bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân quy định: “Người đang bị tước quyền bầu cử theo bản án, quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp luật, người đang phải chấp hành hình phạt tù, người đang bị tạm giam và người mất năng lực hành vi dân sự thì không được ghi tên vào danh sách cử tri.” Như vậy, người bị kết án tù nhưng cho hưởng án treo, nếu không bị tước quyền bầu cử (trong bản án không ghi bị mất quyền bầu cử), thì được ghi tên vào danh sách cử tri, được phát thẻ cử tri để tham gia bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp.
Câu hỏi 36: Thời hạn nộp hồ sơ của người ứng cử được pháp luật quy định như thế nào?
Trả lời:
+ Theo quy định tại Điều 29 của Luật Bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2003, người được giới thiệu ứng cử và người tự ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân phải nộp hồ sơ tại Uỷ ban bầu cử nơi mình ứng cử chậm nhất là sáu mươi ngày trước ngày bầu cử. Hồ sơ gồm có:
- Đơn ứng cử;
- Sơ yếu lý lịch có chứng nhận của Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi thường trú hoặc cơ quan, tổ chức, đơn vị nơi người đó làm việc;
- Tiểu sử tóm tắt và ba ảnh màu cỡ 4 cm x 6 cm;
+ Theo quy định tại Nghị quyết số 1020/2011/UBTVQH12 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, Bản kê khai tài sản, thu nhập của người ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân là tài liệu trong Hồ sơ ứng cử.
Sau khi nhận và xem xét hồ sơ của những người tự ứng cử, nếu thấy hợp lệ theo quy định của Luật Bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân thì Uỷ ban bầu cử chuyển tiểu sử tóm tắt và danh sách trích ngang của người tự ứng cử đến Ban Thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc cùng cấp.

Câu hỏi 37: Những ai không được ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân?
Trả lời: Theo quy định tại Điều 31 của Luật Bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân, những người sau đây không được ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân:
- Những người đang bị tước quyền bầu cử theo bản án, quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp luật, người đang phải chấp hành hình phạt tù, người đang bị tạm giam và người mất năng lực hành vi dân sự;
- Người đang bị khởi tố về hình sự;
- Người đang phải chấp hành bản án, quyết định hình sự của Toà án;
- Người đã chấp hành xong bản án, quyết định hình sự của Toà án nhưng chưa được xoá án tích;
- Người đang chấp hành quyết định xử lý vi phạm hành chính về giáo dục tại xã, phường, thị trấn, tại cơ sở giáo dục, cơ sở chữa bệnh hoặc đang bị quản chế hành chính.
Những người đã có tên trong danh sách ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân mà đến thời điểm bắt đầu bầu cử bị khởi tố về hình sự, bị bắt giữ vì phạm tội quả tang hoặc bị mất năng lực hành vi dân sự thì Uỷ ban bầu cử sau khi thống nhất với Ban Thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc cùng cấp xoá tên người đó trong danh sách những người ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân và thông báo cho cử tri biết.
Câu hỏi 38: Người được giới thiệu ứng cử, người tự ứng cử ứng cử có thể được bầu làm đại biểu Hội đồng nhân dân ở mấy cấp? Người ứng cử có nhất thiết là người cư trú tại địa phương không? Người ứng cử có thể ghi tên ứng cử ở nhiều đơn vị bầu cử không? Người đó có được tham gia tổ chức phụ trách bầu cử không?
Trả lời:
- Theo Điều 3 Nghị quyết số 1020/2011/UBTVQH12 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, công dân có đủ điều kiện và tiêu chuẩn quy định tại Điều 3 của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và Điều 2, Điều 3 của Luật Bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân chỉ được ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân không quá hai cấp; nếu đã ứng cử đại biểu Quốc hội thì chỉ được ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân ở một cấp.
- Theo quy định tại Điều 30 của Luật Bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2003 thì người được giới thiệu ứng cử, người tự ứng cử ứng cử (sau đây gọi chung là người ứng cử) đại biểu Hội đồng nhân dân địa phương nào thì phải là người cư trú hoặc làm việc thường xuyên ở địa phương đó.
Như vậy, người ứng cử cần có một trong hai điều kiện trên; nếu làm việc, công tác thường xuyên ở địa phương nơi tự ứng cử hoặc được giới thiệu ứng cử thì không nhất thiết phải đồng thời là người cư trú (có hộ khẩu thường trú, tạm trú) ở địa phương đó.
- Theo quy định tại Điều 30 của Luật Bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân, người ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân chỉ được giới thiệu ứng cử, tự ứng cử ở một đơn vị bầu cử và không được tham gia Ban bầu cử hoặc Tổ bầu cử thuộc đơn vị mình ra ứng cử.
Câu hỏi 39: Thời hạn gửi danh sách những người ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân và thời hạn công bố và niêm yết danh sách người ứng cử?
Trả lời:
- Thời hạn gửi danh sách những người ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân, theo Điều 40 của Luật Bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2003:
Đối với cấp tỉnh: Chậm nhất ba mươi ngày trước ngày bầu cử, Ban Thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tỉnh phải gửi biên bản Hội nghị hiệp thương lần thứ ba và danh sách chính thức những người ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân đến Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Thường trực Hội đồng nhân dân, Uỷ ban bầu cử cùng cấp.
Đối với cấp huyện, cấp xã: Chậm nhất ba mươi ngày trước ngày bầu cử, Ban Thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc cấp huyện, cấp xã phải gửi biên bản Hội nghị hiệp thương lần thứ ba và danh sách chính thức những người ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân đến Thường trực Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân, Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc cấp trên trực tiếp và Thường trực Hội đồng nhân dân, Uỷ ban bầu cử cùng cấp.
- Theo quy định tại Điều 41 của Luật Bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2003, khoản 2, Điều 3 Luật sửa đổi, bổ sung năm 2010, việc công bố và niêm yết danh sách những người ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân được thực hiện như sau:
Chậm nhất hai mươi lăm ngày trước ngày bầu cử, Uỷ ban bầu cử công bố danh sách những người ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân theo từng đơn vị bầu cử.
Chậm nhất hai mươi ngày trước ngày bầu cử, Tổ bầu cử phải niêm yết danh sách những người ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân theo công bố của Uỷ ban bầu cử bầu cử ở các khu vực bỏ phiếu.
Câu hỏi 40: Số người ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân ở mỗi đơn vị bầu cử được quy định như thế nào?
Trả lời: Theo quy định tại các điều 10 và 42 của Luật Bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2003, đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp được bầu theo đơn vị bầu cử, mỗi đơn vị bầu cử được bầu không quá năm đại biểu; số người ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân ở mỗi đơn vị bầu cử phải nhiều hơn số đại biểu được bầu ở đơn vị đó ít nhất là hai người, trừ trường hợp bất khả kháng theo hướng dẫn của Chính phủ.

Câu hỏi 41: Khiếu nại, tố cáo về người ứng cử; khiếu nại, kiến nghị về sai sót trong việc lập danh sách những người ứng cử được giải quyết như thế nào?
Trả lời: Theo quy định tại Điều 43 của Luật Bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân và Điều 10 Nghị quyết số 1020/2011/UBTVQH12 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, kể từ ngày công bố danh sách những người ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân thì công dân có quyền khiếu nại, tố cáo về người ứng cử; khiếu nại, kiến nghị về những sai sót trong việc lập danh sách những người ứng cử với Ban bầu cử cấp đó.
- Khi nhận được khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, Ban bầu cử phải ghi vào sổ và giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị theo thẩm quyền. Trường hợp người khiếu nại, tố cáo, kiến nghị không đồng ý với kết quả giải quyết của Ban bầu cử thì có quyền khiếu nại, kiến nghị với Uỷ ban bầu cử. Quyết định của Uỷ ban bầu cử là quyết định cuối cùng.
- Trong thời hạn mười ngày trước ngày bầu cử, Ban bầu cử, Uỷ ban bầu cử ngưng việc tiếp nhận khiếu nại, tố cáo mới về người ứng cử và khiếu nại, kiến nghị về sai sót trong việc lập danh sách những người ứng cử.
Những khiếu nại, tố cáo, kiến nghị đã được tiếp nhận trước thời điểm này vẫn tiếp tục được xem xét, giải quyết. Trong trường hợp những khiếu nại, tố cáo đã rõ ràng, có đủ cơ sở kết luận người ứng cử không đủ tiêu chuẩn đại biểu Hội đồng nhân dân thì Uỷ ban bầu cử quyết định xoá tên người đó trong danh sách những người ứng cử trước ngày bầu cử và thông báo cho cử tri biết.
- Không xem xét, giải quyết đối với đơn tố cáo không rõ họ tên, địa chỉ người tố cáo, đơn tố cáo mạo tên người tố cáo hoặc không có chữ ký trực tiếp mà sao chụp chữ ký, đơn tố cáo đã được cấp có thẩm quyền giải quyết nay tố cáo lại nhưng không có bằng chứng mới.
- Uỷ ban bầu cử chuyển toàn bộ hồ sơ về khiếu nại, tố cáo, kiến nghị chưa được giải quyết và những khiếu nại, tố cáo, kiến nghị đã được giải quyết nhưng đương sự vẫn không đồng ý đến Thường trực Hội đồng nhân dân khoá mới để giải quyết theo thẩm quyền.
Câu hỏi 42: Việc xoá tên người ứng cử trong danh sách chính thức những người ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân được quy định như thế nào?
Trả lời: Theo quy định tại Điều 9 Nghị quyết số 1020/2011/UBTVQH12 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội: Nếu người có tên trong danh sách chính thức những người ứng cử, đến thời điểm bắt đầu bỏ phiếu mà bị truy cứu trách nhiệm hình sự (bị khởi tố về hình sự, bị bắt giữ vì phạm tội quả tang, bị mất năng lực hành vi dân sự) hoặc bị chết thì Ủy ban bầu cử sau khi thống nhất ý kiến với Ban Thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp quyết định xoá tên người đó trong danh sách chính thức những người ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân.
Câu hỏi 43: Trường hợp khuyết người ứng cử vì lý do bất khả kháng là gì? Giải quyết trường hợp này như thế nào?
Trả lời: Theo quy định tại Điều 9 Nghị quyết số 1020/2011/UBTVQH12 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội và Điều 9 của Nghị định 19/2004/NĐ-CP:
Trường hợp bất khả kháng ở một đơn vị bầu cử là trường hợp khuyết người ứng cử sau khi danh sách những người ứng cử đã được công bố vì lý do người ứng cử bị truy cứu trách nhiệm hình sự (bị khởi tố về hình sự, bị bắt giữ vì phạm tội quả tang, bị mất năng lực hành vi dân sự), bị chết hoặc vì lý do khác phải xoá tên hoặc rút tên khỏi danh sách người ứng cử, dẫn đến số người ứng cử ở đơn vị bầu cử không còn nhiều hơn số đại biểu được bầu ở đơn vị đó ít nhất là hai người như quy định của Luật.
- Trong trường hợp bất khả kháng xảy ra sau khi danh sách những người ứng cử đã được công bố đến trước khi niêm yết danh sách những người ứng cử hai ngày trở lên thì Ủy ban bầu cử sau khi thống nhất ý kiến với Ban Thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp lựa chọn người có tín nhiệm cao nhất và đạt trên năm mươi phần trăm số phiếu tín nhiệm trong số người còn lại ở danh sách đã hiệp thương lần thứ ba để bổ sung vào danh sách chính thức những người ứng cử.
- Trong trường hợp bất khả kháng xảy ra nhưng không lựa chọn được người để bổ sung vào danh sách những người ứng cử như trên (do trong danh sách hiệp thương lần thứ ba không có người tín nhiệm cao nhất và đạt trên năm mươi phần trăm số phiếu tín nhiệm) hoặc trường hợp bất khả kháng xảy ra sau khi niêm yết danh sách những người ứng cử thì Uỷ ban nhân dân cấp bầu cử quyết định việc giảm số đại biểu được bầu ở đơn vị bầu cử khuyết ứng cử viên vì lý do bất khả kháng theo quy định của Luật, trình Uỷ ban nhân dân cấp trên trực tiếp phê chuẩn; đối với đơn vị bầu cử cấp tỉnh thì Uỷ ban nhân dân tỉnh trình Chính phủ phê chuẩn.

Mục 6
TRÌNH TỰ BẦU CỬ
Câu hỏi 44: Các địa điểm bỏ phiếu (phòng bỏ phiếu) bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp được tổ chức như thế nào?
Trả lời: Theo quy định tại Điều 23 của Nghị định số 19/2004/NĐ-CP thì các địa điểm bỏ phiếu (phòng bỏ phiếu) phải bảo đảm trang nghiêm, có đủ các điều kiện và phương tiện vật chất cần thiết phục vụ cho việc bầu cử và thuận tiện cho việc cử tri đến bầu cử. Các địa điểm bỏ phiếu (phòng bỏ phiếu) phải có cờ Tổ quốc, ảnh Chủ tịch Hồ Chí Minh, khẩu hiệu, nội quy phòng bỏ phiếu, danh sách cử tri, danh sách những người ứng cử và những trang thiết bị cần thiết cho Tổ bầu cử làm việc như: Hòm phiếu, bàn ghế, giấy trắng, bút mực… và phải bảo đảm có đủ ánh sáng để tạo điều kiện thuận lợi cho Tổ bầu cử làm việc và cử tri thực hiện việc bỏ phiếu theo đúng quy định của Luật.
Trong cuộc bầu cử này, các địa phương bố trí địa điểm bỏ phiếu chung bầu cử đại biểu Quốc hội và bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp; màu phiếu bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp và màu phiếu bầu cử đại biểu Quốc hội khoá XIII là bốn màu khác nhau; sử dụng hòm phiếu còn lại của các cuộc bầu cử trước đây. Màu phiếu và kích thước hòm phiếu do Uỷ ban bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quy định.
Tại mỗi địa điểm bỏ phiếu chung cho bầu cử đại biểu Quốc hội và bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân, các Tổ bầu cử cần cử người hướng dẫn cụ thể cách thức bỏ phiếu cho cử tri.
Câu hỏi 45: Kiểm tra, đôn đốc việc chuẩn bị cho ngày bầu cử thực hiện như thế nào?
Trả lời: Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm chỉ đạo thực hiện và kiểm tra, đôn đốc việc chuẩn bị cho cuộc bầu cử và phục vụ công tác bầu cử của các cơ quan, tổ chức, đơn vị và chính quyền địa phương các cấp.
Uỷ ban bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, Uỷ ban bầu cử cấp huyện, cấp xã, Ban bầu cử đại biểu Quốc hội và Ban bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp căn cứ vào nhiệm vụ, quyền hạn do Luật định tiến hành kiểm tra, đôn đốc việc triển khai công việc chuẩn bị cho ngày bầu cử.
Căn cứ vào nội dung công việc cần phải làm, công tác kiểm tra, đôn đốc tập trung vào các nội dung: Chấp hành quy định của Luật Bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân về thời gian thành lập, số lượng, thành phần của các Tổ chức phụ trách bầu cử; việc lập và niêm yết danh sách cử tri; việc niêm yết danh sách người ứng cử trong đơn vị bầu cử; việc sắp xếp vị trí và trang trí địa điểm bỏ phiếu; việc phân phối thẻ cử tri, phiếu bầu; việc phát thẻ cử tri, phiếu bầu và việc giải quyết các khiếu nại của cử tri về các vấn đề liên quan đến bầu cử.
Câu hỏi 46: Trình tự thực hiện công tác bầu cử trong ngày bỏ phiếu?
Trả lời: Trong ngày bầu cử, Tổ bầu cử phân công cụ thể nhiệm vụ, quyền hạn của từng thành viên trong tổ chức thực hiện công tác bầu cử. Quá trình thực hiện nhiệm vụ, các thành viên Tổ bầu cử phải đeo phù hiệu của Tổ bầu cử và thực hiện đúng chức trách, nhiệm vụ được phân công.
- Theo quy định tại các điều 49, 51 của Luật Bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân và Điều 24 của Nghị định số 19/2004/NĐ-CP công dân có tên trong danh sách cử tri được phát thẻ cử tri để thực hiện quyền bầu cử của mình.
Mỗi cử tri có quyền bỏ một phiếu bầu cho mỗi cấp Hội đồng nhân dân.
Khi bầu cử cử tri phải xuất trình Thẻ cử tri, Tổ bầu cử đối chiếu với danh sách cử tri và phát phiếu bầu cho cử tri. Khi cử tri viết phiếu, không ai được xem, kể cả thành viên Tổ bầu cử; nếu viết hỏng, cử tri có quyền đổi phiếu bầu khác. Khi cử tri bỏ phiếu xong, Tổ bầu cử phải đóng dấu ‘‘Đã bỏ phiếu’’ vào Thẻ cử tri.
- Trường hợp đặc biệt, khu vực bỏ phiếu nào cần hoãn ngày bỏ phiếu hoặc bỏ phiếu sớm hơn ngày quy định thì Ban bầu cử sau khi lấy ý kiến của Tổ bầu cử ở khu vực bầu cử đó báo cáo ngay với Uỷ ban bầu cử và cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định. Trường hợp có sự kiện bất ngờ làm gián đoạn việc bỏ phiếu, kiểm phiếu thì Tổ bầu cử phải lập tức niêm phong hòm phiếu, tài liệu, giấy tờ có liên quan; thực hiện biện pháp dự phòng để cuộc bỏ phiếu, kiểm phiếu được tiếp tục, đồng thời báo cáo Ban bầu cử để có hướng giải quyết.

Câu hỏi 47: Việc tổ chức ngày bầu cử, kiểm phiếu và đảm bảo an toàn cho ngày bầu cử như thế nào?
Trả lời: Để ngày bầu cử đại biểu Quốc hội khoá XIII và bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp diễn ra đúng luật, an toàn và tiết kiệm, ngày bầu cử thực sự là ngày hội của toàn dân, chính quyền các cấp cần tập trung chỉ đạo tốt các công việc sau:
- Tổ chức truyên truyền, cổ động rộng rãi cho ngày bầu cử, tạo không khí hồ hởi, phấn khởi trong toàn xã hội.
- Bố trí phòng bỏ phiếu ở địa điểm thuận tiện cho việc đi bầu cử của cử tri. Phòng bỏ phiếu phải bố trí trang nghiêm, đảm bảo các điều kiện cần thiết để cử tri có thể xem lại danh sách ứng cử viên và cân nhắc, lựa chọn, viết phiếu và bỏ phiếu bầu theo nguyên tắc bỏ phiếu kín.
- Ban hành nội quy phòng bỏ phiếu.
- Xây dựng phương án bảo vệ trật tự, an ninh và khắc phục những sự cố thiên tai, hoả hoạn có thể xảy ra tại phòng bỏ phiếu trong ngày bỏ phiếu, đảm bảo để ngày bầu cử không bị gián đoạn và đạt kết quả tốt.
- Chuẩn bị chu đáo để có thể khai mạc và kết thúc ngày bầu cử đại biểu Quốc hội và bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp đúng thời gian quy định (bắt đầu từ bảy giờ sáng Chủ nhật, ngày 22 tháng 5 năm 2011 và kết thúc chậm nhất vào bảy giờ tối cùng ngày). Căn cứ tình hình cụ thể ở địa phương, Tổ bầu cử có thể quyết định cho bắt đầu sớm hơn nhưng không được trước năm giờ sáng hoặc kết thúc muộn hơn nhưng không được quá mười giờ đêm cùng ngày.
- Trường hợp có sự cố bất ngờ xảy ra làm gián đoạn việc bỏ phiếu, Tổ bầu cử phải lập tức niêm phong hòm phiếu, giấy tờ, tài liệu có liên quan trực tiếp đến cuộc bầu cử, lập biên bản và kịp thời báo cáo Ban bầu cử để cho ý kiến xử lý; đồng thời triển khai phương án dự phòng, tổ chức hòm phiếu phụ để cuộc bỏ phiếu được tiếp tục. Nếu vì lý do đặc biệt không thể tiếp tục công việc, Tổ bầu cử cần báo cáo ngay với Ban bầu cử để đề nghị Uỷ ban bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh trình Hội đồng bầu cử xem xét, quyết định.
- Việc kiểm phiếu và lập biên bản kiểm phiếu phải được Tổ bầu cử thực hiện tại phòng bỏ phiếu ngay sau khi cuộc bầu cử kết thúc theo đúng quy định của Luật hiện hành; trừ trường hợp đặc biệt khác do Uỷ ban bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quyết định hoặc trình Hội đồng bầu cử xem xét, quyết định.
- Uỷ ban nhân dân các cấp phối hợp chặt chẽ với Thường trực Hội đồng nhân dân, Ban Thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc cùng cấp tập trung chỉ đạo, phân công kiểm tra việc bảo đảm an ninh, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn, đặc biệt ở các khu vực bỏ phiếu, đảm bảo để việc bỏ phiếu được tiến hành trật tự, nghiêm túc, đúng Luật định.
Câu hỏi 48: Trường hợp nào thì cử tri được nhờ người khác viết hộ phiếu bầu? Người được nhờ viết phiếu hộ có trách nhiệm gì?
Trả lời: Theo quy định tại Điều 50 của Luật Bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân, cử tri không thể tự viết được phiếu bầu thì có thể nhờ người khác viết hộ, nhưng phải tự mình bỏ phiếu.
Người viết hộ phải bảo đảm bí mật phiếu bầu của cử tri. Nếu vì tàn tật không tự bỏ phiếu được thì cử tri có thể nhờ người khác bỏ phiếu vào hòm phiếu.
Câu hỏi 49: Hòm phiếu phụ được sử dụng trong trường hợp nào?
Trả lời: Theo quy định tại Điều 54 của Luật Bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân và Điều 25 của Nghị định 19/2004/NĐ-CP, hòm phiếu phụ cũng được sử dụng trong các trường hợp sau đây:
- Cử tri ốm đau, già yếu, tàn tật không thể đến phòng bỏ phiếu được thì Tổ bầu cử cử người mang hòm phiếu phụ và phiếu bầu đến chỗ ở của cử tri để cử tri nhận phiếu và bầu.
- Có sự kiện bất ngờ xảy ra làm gián đoạn việc bỏ phiếu.
Câu hỏi 50: Việc báo cáo tình hình trong ngày bầu cử được thực hiện như thế nào?
Trả lời: Theo Điều 22 Nghị quyết số 1020/2011/UBTVQH12 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội và Điều 26 của Nghị định số 19/2004/ NĐ-CP:
+ Trong ngày bầu cử, Uỷ ban bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh phải báo cáo với Hội đồng bầu cử, Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Chính phủ; Uỷ ban bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp huyện, cấp xã báo cáo Thường trực Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân, Ban thường trực Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp và cấp trên trực tiếp về các nội dung như sau:
- Các điều kiện phục vụ cho ngày bầu cử,
- Những thuận lợi, khó khăn về giao thông, thời tiết ảnh hưởng tới việc bầu cử;
- Giờ khai mạc và không khí ngày bầu cử;
- Số cử tri đi bầu và tiến độ cử tri đi bầu;
- Dư luận trong nhân dân về cuộc bầu cử và những người ứng cử;
- Tình hình an ninh, trật tự, an toàn xã hội;
- Những vấn đề cần xin ý kiến chỉ đạo, hướng dẫn;
- Kết quả sơ bộ của cuộc bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân ở địa phương.
+ Uỷ ban bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh phải báo cáo trực tiếp bằng điện thoại, thư điện tử hoặc Fax đến Hội đồng bầu cử và Chính phủ theo tiến độ hai giờ một lần.
Kết thúc ngày bầu cử, Uỷ ban bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân phải báo cáo đầy đủ với Hội đồng bầu cử các nội dung quy định tại Khoản 1 trên đây bằng Fax, ở những nơi có sự cố đột xuất xảy ra, ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc bầu cử thì phải báo cáo ngay với Hội đồng bầu cử để xin ý kiến chỉ đạo.
+ Uỷ ban bầu cử có bộ phận thường trực để tiếp nhận thông tin từ các Ban bầu cử, Tổ bầu cử gửi đến.
Theo Điểm 2, mục II Thông tư số 01/2007/TT-BNV ngày 02 tháng 02 năm 2007 của Bộ Nội vụ Hướng dẫn một số nội dung về tổ chức bầu cử đại biểu Quốc hội khoá XII và bầu cử bổ sung đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2004-2009:
- Uỷ ban nhân dân các cấp thực hiện chế độ báo cáo thường xuyên theo tiến độ về tình hình tổ chức, thực hiện cuộc bầu cử lên Uỷ ban nhân dân cấp trên trực tiếp một giờ một lần.
- Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh báo lên Chính phủ (qua Bộ Nội vụ) hai giờ một lần.
Câu hỏi 51: Trong trường hợp có sự kiện bất ngờ làm gián đoạn việc bỏ phiếu thì xử lý như thế nào?
Trả lời: Theo Khoản 11 Điều 2 Luật sửa đổi, bổ sung năm 2010: Trong ngày bầu cử, cuộc bỏ phiếu phải được tiến hành liên tục. Trong trường hợp có sự kiện bất ngờ như thiên tai, lũ lụt, hoả hoạn hoặc các trường hợp bất khả kháng khác làm gián đoạn việc bỏ phiếu thì Tổ bầu cử phải lập tức niêm phong giấy tờ và hòm phiếu, kịp thời báo cáo cho Ban bầu cử biết, đồng thời phải tổ chức hòm phiếu phụ và có những biện pháp cần thiết để cuộc bỏ phiếu được tiếp tục.
Trong trường hợp đặc biệt cần hoãn ngày bỏ phiếu hoặc bỏ phiếu sớm hơn ngày quy định thì Tổ bầu cử phải kịp thời báo cáo Ban bầu cử để đề nghị Uỷ ban bầu cử trình Hội đồng bầu cử xem xét, quyết định.

Mục 7
VIỆC KIỂM PHIẾU
Câu hỏi 52: Việc kiểm phiếu được quy định như thế nào?
Trả lời: Theo quy định tại Điều 55 của Luật Bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân, việc kiểm phiếu phải được tiến hành tại phòng bỏ phiếu ngay sau khi Tổ trưởng Tổ bầu cử tuyên bố kết thúc cuộc bỏ phiếu.
Trước khi mở hòm phiếu, Tổ bầu cử phải phải mời hai cử tri không phải là người ứng cử có mặt tại đó chứng kiến việc thống kê, lập biên bản về việc sử dụng phiếu bầu, niêm phong số phiếu bầu không sử dụng đến và kiểm phiếu.
Người ứng cử, đại diện cơ quan, tổ chức, đơn vị, thôn, tổ dân phố có người ứng cử có quyền chứng kiến việc kiểm phiếu và khiếu nại về việc kiểm phiếu. Các phóng viên báo chí được chứng kiến việc kiểm phiếu.
Theo quy định tại Điều 28 của Nghị định số 19/2004/NĐ-CP, trong trường hợp có sự kiện làm gián đoạn việc kiểm phiếu hoặc không thể tiến hành kiểm phiếu được thì Tổ bầu cử phải niêm phong số phiếu đã kiểm hoặc hòm phiếu, lập biên bản về sự việc xảy ra và báo cáo ngay với Ban bầu cử, Uỷ ban bầu cử để giải quyết theo quy định của pháp luật.

Câu hỏi 53: Thế nào là phiếu hợp lệ?
Trả lời: Theo quy định tại Điều 22 của Nghị quyết số 1020/2011/UBTVQH12 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, những phiếu sau đây là phiếu hợp lệ:
- Phiếu bầu theo mẫu quy định do Tổ bầu cử phát, có dấu của Tổ bầu cử;
- Phiếu bầu đủ hoặc ít hơn số đại biểu mà đơn vị bầu cử được bầu;
- Phiếu bầu gạch tên những người ứng cử không được tín nhiệm bằng cách gạch chéo, gạch xiên, gạch dọc hoặc gạch ngang nhưng phải gạch hết họ, tên.
Câu hỏi 54: Thế nào là phiếu không hợp lệ?
Trả lời: Theo quy định tại Điều 56 của Luật Bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân và Điều 22 của Nghị quyết số 1020/2011/UBTVQH12 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, những phiếu sau đây là phiếu không hợp lệ:
- Phiếu không theo mẫu quy định do Tổ bầu cử phát;
- Phiếu không có dấu của Tổ bầu cử;
- Phiếu để số người được bầu quá số đại biểu mà đơn vị bầu cử được bầu;
- Phiếu gạch xoá hết tên những người ứng cử; phiếu ghi tên người ngoài danh sách ứng cử; phiếu có viết thêm;
- Phiếu gạch vào khoảng cách giữa họ và tên hai người ứng cử; phiếu khoanh tròn họ và tên người ứng cử.
Câu hỏi 55: Xử lý các khiếu nại tại chỗ về việc kiểm phiếu như thế nào?
Trả lời: Theo quy định tại Điều 58 của Luật Bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân, những khiếu nại tại chỗ về việc kiểm phiếu do Tổ bầu cử tiếp nhận, giải quyết và ghi rõ cách giải quyết vào biên bản.
Nếu Tổ bầu cử không giải quyết được thì phải báo cáo Ban bầu cử giải quyết.
Câu hỏi 56: Biên bản kiểm phiếu ở Tổ bầu cử ghi những nội dung gì?
Trả lời: Theo quy định tại Điều 59 của Luật Bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân, sau khi kiểm phiếu xong, Tổ bầu cử phải lập biên bản kiểm phiếu. Biên bản kiểm phiếu phải ghi rõ:
- Tổng số cử tri của khu vực bỏ phiếu;
- Số cử tri đã tham gia bỏ phiếu;
- Số phiếu phát ra;
- Số phiếu thu vào;
- Số phiếu hợp lệ; số phiếu không hợp lệ;
- Số phiếu bầu cho mỗi người ứng cử;
- Những khiếu nại đã nhận được, những khiếu nại đã giải quyết và cách giải quyết, những khiếu nại chuyển đến Ban bầu cử giải quyết.
Biên bản kiểm phiếu được lập thành ba bản, có chữ ký của Tổ trưởng, Tổ phó, Thư ký Tổ bầu cử và hai cử tri được mời chứng kiến việc kiểm phiếu để gửi đến Ban bầu cử, Uỷ ban nhân dân, Ban Thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc xã, phường, thị trấn.

Mục 8
KẾT QUẢ BẦU CỬ
Câu hỏi 57: Biên bản xác định kết quả bầu cử ở đơn vị bầu cử gồm những nội dung gì?
Trả lời: Theo quy định tại Điều 24 Nghị quyết số 1020/2011/UBTVQH12 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội và Điều 60 của Luật Bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân, Biên bản xác định kết quả bầu cử do Ban bầu cử lập theo mẫu do Hội đồng bầu cử ban hành.
+ Nội dung biên bản xác định kết quả bầu cử ở đơn vị bầu cử của mình phải ghi rõ:
- Số đại biểu Hội đồng nhân dân được ấn định cho đơn vị bầu cử;
- Số người ứng cử;
- Tổng số cử tri của đơn vị bầu cử;
- Số cử tri đã tham gia bỏ phiếu, tỷ lệ so với tổng số cử tri;
- Số phiếu phát ra;
- Số phiếu thu vào;
- Số phiếu hợp lệ;
- Số phiếu không hợp lệ;
- Số phiếu bầu cho mỗi người ứng cử;
- Danh sách những người trúng cử;
- Những khiếu nại do Tổ bầu cử đã giải quyết;
- Những khiếu nại do Ban bầu cử giải quyết;
- Những khiếu nại chuyển đến Uỷ ban bầu cử giải quyết.
+ Biên bản xác định kết quả bầu cử có chữ ký của Trưởng ban, Phó Trưởng ban và Thư ký Ban bầu cử để gửi đến Uỷ ban bầu cử, Thường trực Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân và Ban Thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp.
+ Uỷ ban bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh gửi Biên bản xác định kết quả bầu cử đến Hội đồng bầu cử, Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Chính phủ, Thường trực Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân và Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc cùng cấp.
Câu hỏi 58: Điều kiện để xác định người trúng cử là gì?
Trả lời: Theo quy định tại Điều 61 của Luật Bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân, người trúng cử đại biểu Hội đồng nhân dân cần phải có đủ hai điều kiện:
- Thứ nhất, phải đạt trên năm mươi phần trăm số phiếu hợp lệ;
- Thứ hai, phải được nhiều phiếu hơn.
Trong trường hợp nhiều người được số phiếu bằng nhau (và đều đạt trên năm mươi phần trăm số phiếu hợp lệ) thì người nhiều tuổi hơn là người trúng cử.
