Mục 9
BẦU CỬ THÊM VÀ BẦU CỬ LẠI
Câu hỏi 59: Bầu cử thêm được tổ chức trong trường hợp nào và phải tuân theo những trình tự, thủ tục nào?
Trả lời: Theo quy định tại Điều 62 của Luật Bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân, bầu cử thêm được tổ chức trong trường hợp tại cuộc bầu cử đầu tiên, số người trúng cử chưa đủ hai phần ba số đại biểu đã ấn định cho đơn vị bầu cử.
Việc bầu chưa đủ đại biểu phải được Ban bầu cử ghi rõ vào biên bản xác định kết quả bầu cử và báo cáo ngay cho Uỷ ban bầu cử để quyết định ngày bầu cử thêm số đại biểu còn thiếu. Việc bầu cử thêm phải được tiến hành chậm nhất là mười lăm ngày sau ngày bầu cử đầu tiên.
Trong cuộc bầu cử thêm, cử tri chỉ chọn bầu trong danh sách những người đã ứng cử lần đầu nhưng không trúng cử.
Nếu bầu cử thêm mà vẫn chưa đủ số đại biểu thì không tổ chức bầu cử thêm lần thứ hai.
Câu hỏi 60: Bầu cử lại được tổ chức trong những trường hợp nào và phải tuân theo những trình tự, thủ tục nào?
Trả lời: Theo quy định tại các điều 63, 64 của Luật Bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân và Khoản 2 Điều 2 Luật sửa đổi, bổ sung năm 2010, bầu cử lại được tổ chức khi trong cuộc bầu cử lần đầu tiên xảy ra các trường hợp sau đây:
- Đơn vị bầu cử có số cử tri đi bầu chưa được quá nửa số cử tri ghi trong danh sách. Trong trường hợp này, Ban bầu cử phải ghi rõ vào biên bản và báo cáo ngay cho Uỷ ban bầu cử. Uỷ ban bầu cử quyết định ngày bầu cử lại, chậm nhất là mười lăm ngày sau ngày bầu cử đầu tiên.
- Đơn vị bầu cử vi phạm nghiêm trọng Luật Bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân làm cuộc bầu cử bị huỷ bỏ. Trong trường hợp này, Hội đồng bầu cử huỷ bỏ cuộc bầu cử ở đơn vị bầu cử có những vi phạm pháp luật nghiêm trọng theo đề nghị của Chính phủ và quyết định ngày bầu cử lại ở đơn vị bầu cử đó.
Trong cuộc bầu cử lại, cử tri chỉ chọn bầu trong danh sách những người đã ứng cử lần đầu. Nếu bầu cử lại mà số cử tri đi bầu vẫn chưa được quá nửa số cử tri ghi trong danh sách thì không tổ chức bầu cử lại lần thứ hai.
Câu hỏi 61: Trong cuộc bầu cử thêm, bầu cử lại đại biểu Hội đồng nhân dân, những trường hợp nào cử tri được bầu đại biểu Hội đồng nhân dân một cấp, hai cấp, ba cấp?
Trả lời: Theo Điều 65 Luật Bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2003,danh sách cử tri của cuộc bầu cử thêm hoặc bầu cử lại căn cứ vào danh sách cử tri đã lập trong cuộc bầu cử đầu tiên và theo quy định của Luật Bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2003.
Trong cuộc bầu cử thêm, bầu cử lại, những trường hợp cử tri được bầu đại biểu Hội đồng nhân dân một cấp, hai cấp, ba cấp trong cuộc bầu cử lần đầu vẫn được tham gia bầu cử một cấp, hai cấp, ba cấp tại đơn vị bầu cử cấp đó nếu phải bầu thêm, bầu lại.
Trường hợp công dân đã đi bầu cử lần đầu nhưng sau đó đăng ký tạm vắng trong ngày bầu cử thêm, bầu cử lại thì xóa tên trong danh sách cử tri của cuộc bầu cử thêm, bầu cử lại.
Câu hỏi 62: Những cử tri tạm vắng nên không có tên trong danh sách cử tri trong cuộc bầu cử lần đầu thì trong cuộc bầu cử thêm, bầu cử lại đại biểu Hội đồng nhân dân, cử tri có được bầu đại biểu Hội đồng nhân dân không?
Trả lời: Theo Điều 65 Luật Bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2003, danh sách cử tri của cuộc bầu cử thêm hoặc bầu cử lại căn cứ vào danh sách cử tri đã lập trong cuộc bầu cử đầu tiên và theo quy định của Luật bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân.
Như vậy, theo quy định của luật, người không có tên trong danh sách cử tri đã lập trong cuộc bầu cử đầu tiên thì không tham gia bầu cử thêm, bầu cử lại.
Câu hỏi 63: Việc huỷ bỏ cuộc bầu cử được thực hiện trong trường hợp nào? Cơ quan nào có thẩm quyền huỷ bỏ cuộc bầu cử?
Trả lời: Theo Khoản 12 Điều 2 Luật sửa đổi, bổ sung năm 2010, việc huỷ bỏ cuộc bầu cử được thực hiện trong trường hợp ở đơn vị bầu cử có những vi phạm pháp luật nghiêm trọng.
Khi có vi phạm pháp luật nghiêm trọng xảy ra, Uỷ ban bầu cử phải báo cáo Chính phủ xem xét, trình Hội đồng bầu cử ban hành Nghị quyết huỷ bỏ cuộc bầu cử và quyết định ngày bầu cử lại ở đơn vị bầu cử đó.

Mục 10
TỔNG KẾT BẦU CỬ
Câu hỏi 64: Biên bản tổng kết cuộc bầu cử do cơ quan nào lập và gồm những nội dung gì?
Trả lời: Theo quy định tại Điều 66 của Luật Bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân và Khoản 2 Điều 2 Luật sửa đổi, bổ sung năm 2010, Biên bản tổng kết cuộc bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân ở đơn vị hành chính do Uỷ ban bầu cử lập sau khi đã kiểm tra biên bản xác định kết quả bầu cử của các Ban bầu cử và giải quyết những khiếu nại do Ban bầu cử chuyển đến.
Nội dung Biên bản tổng kết cuộc bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân phải ghi rõ: Tổng số đại biểu ấn định cho Hội đồng nhân dân cấp đó; tổng số người ứng cử; số lượng đơn vị bầu cử, khu vực bỏ phiếu; tổng số cử tri; số cử tri đã tham gia bỏ phiếu, tỷ lệ so với tổng số cử tri; số phiếu phát ra; số phiếu thu vào; số phiếu hợp lệ; số phiếu không hợp lệ; số phiếu bầu cho mỗi người ứng cử; danh sách những người trúng cử; những khiếu nại, tố cáo do Uỷ ban bầu cử giải quyết; những việc quan trọng đã xảy ra và cách giải quyết.
Biên bản tổng kết cuộc bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân được lập thành bảy bản, có chữ ký của Chủ tịch, Phó Chủ tịch và Thư ký Uỷ ban bầu cử để gửi đến Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân, Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc cùng cấp và cấp trên trực tiếp. Biên bản tổng kết bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh được gửi đến Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân, Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp, Hội đồng bầu cử, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.
Câu hỏi 65: Cơ quan nào có trách nhiệm tổng kết cuộc bầu cử? Nội dung tổng kết cuộc bầu cử tại địa phương được quy định như thế nào?
Trả lời: Theo Điều 26 Nghị quyết số 1020/2011/UBTVQH12 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, Hội đồng bầu cử có trách nhiệm tổng kết cuộc bầu cử trong phạm vi cả nước. Uỷ ban bầu cử có trách nhiệm tổng kết cuộc bầu cử tại địa phương.
Nội dung tổng kết cuộc bầu cử bao gồm:
+ Đánh giá quá trình chuẩn bị cuộc bầu cử;
- Các bước chuẩn bị bầu cử theo quy định của pháp luật, công tác lãnh đạo, chỉ đạo, hướng dẫn của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền;
- Việc tổ chức tiếp xúc cử tri nơi công tác, cư trú, nơi bầu cử, vận động bầu cử của những người ứng cử;
- Việc hướng dẫn, chỉ đạo công tác bầu cử của Uỷ ban bầu cử, Ban bầu cử, Tổ bầu cử ở địa phương;
- Việc tổ chức các Hội nghị hiệp thương;
- Công tác thông tin, tuyên truyền, phổ biến, quán triệt các quy định của pháp luật về bầu cử và các văn bản hướng dẫn bầu cử của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền;
- Tình hình an ninh, trật tự, an toàn xã hội ở địa phương trong thời gian chuẩn bị bầu cử và trong ngày bầu cử;
- Việc xem xét đơn thư, khiếu nại, tố cáo, kiến nghị liên quan đến cuộc bầu cử;
- Sự phối hợp lãnh đạo, chỉ đạo của các tổ chức phụ trách công tác bầu cử và các cơ quan, tổ chức hữu quan;
- Việc sử dụng kinh phí bầu cử.
+ Những kinh nghiệm từ việc tổ chức cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khoá XIII và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2011-2016
- Việc chuẩn bị các điều kiện cho cuộc bầu cử;
- Việc chuẩn bị nhân sự ứng cử đại biểu;
- Việc giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị liên quan đến cuộc bầu cử;
- Đánh giá về công tác lãnh đạo, chỉ đạo bầu cử ở địa phương.
+ Kiến nghị với Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, Hội đồng bầu cử, Chính phủ, Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam về việc tổ chức cuộc bầu cử.
Câu hỏi 66: Việc gửi báo cáo tổng kết bầu cử của các tổ chức phụ trách bầu cử ở địa phương được quy định như thế nào?
Trả lời: Theo Điều 26 Nghị quyết số 1020/2011/UBTVQH12 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, Uỷ ban bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh phải gửi Báo cáo Tổng kết bầu cử tại địa phương đến Thường trực Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân, Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, Hội đồng bầu cử, Chính phủ, Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.
Uỷ ban bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp huyện, cấp xã gửi Báo cáo Tổng kết bầu cử tại địa phương đến Thường trực Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân, Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp và Uỷ ban bầu cử cấp trên trực tiếp.
Câu hỏi 67: Việc công bố kết quả bầu cử được quy định như thế nào?
Trả lời: Theo quy định tại Điều 67 của Luật Bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân và Điều 25 Nghị quyết số 1020/2011/UBTVQH12 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, Uỷ ban bầu cử lập Biên bản tổng kết cuộc bầu cử ở địa phương mình và công bố kết quả bầu cử cùng danh sách những người trúng cử đại biểu Hội đồng nhân dân theo từng đơn vị bầu cử ở địa phương mình như sau:
- Năm ngày sau ngày bầu cử đối với cuộc bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân xã, phường, thị trấn;
- Bảy ngày sau ngày bầu cử đối với cuộc bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân huyện miền xuôi, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh;
- Mười ngày sau ngày bầu cử đối với cuộc bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân huyện miền núi và hải đảo, tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương;
- Mười lăm ngày đối với các tỉnh miền núi.
Mục 11
BẦU CỬ BỔ SUNG ĐẠI BIỂU
HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN
Câu hỏi 68: Bầu cử bổ sung đại biểu Hội đồng nhân dân được tiến hành trong trường hợp nào?
Trả lời: Theo quy định tại Điều 68 của Luật Bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân, việc bầu cử bổ sung đại biểu Hội đồng nhân dân trong nhiệm kỳ được tiến hành trong trường hợp sau đây:
- Đơn vị bầu cử khuyết đại biểu;
- Đơn vị hành chính mới được sáp nhập, đơn vị hành chính được chia thành nhiều đơn vị hành chính mới hoặc đơn vị hành chính được thay đổi cấp có số lượng đại biểu Hội đồng nhân dân chưa đủ theo quy định của pháp luật.
Việc bầu cử bổ sung chỉ được tiến hành trong trường hợp số lượng đại biểu Hội đồng nhân dân không còn đủ hai phần ba tổng số đại biểu được ấn định và khi thời gian của nhiệm kỳ Hội đồng nhân dân còn ít nhất là một phần ba, trừ trường hợp đặc biệt theo hướng dẫn của Chính phủ.
Thể thức bầu cử bổ sung đại biểu Hội đồng nhân dân theo quy định tại Luật Bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân, Luật sửa đổi, bổ sung năm 2010 và các quy định khác của pháp luật có liên quan.
Câu hỏi 69: Thời hạn thành lập, thành phần, số lượng thành viên các Uỷ ban bầu cử bổ sung đại biểu Hội đồng nhân dân và Ban bầu cử bổ sung đại biểu Hội đồng nhân dân được quy định như thế nào?
Trả lời: Theo Khoản 13 Điều 2 Luật sửa đổi, bổ sung năm 2010, chậm nhất là hai mươi ngày trước ngày bầu cử bổ sung đại biểu Hội đồng nhân dân cấp nào thì Uỷ ban nhân dân, Thường trực Hội đồng nhân dân và Ban Thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc cấp đó thành lập Uỷ ban bầu cử bổ sung đại biểu Hội đồng nhân dân và chậm nhất là mười lăm ngày trước ngày bầu cử bổ sung, thành lập ở mỗi đơn vị bầu cử bổ sung một Ban bầu cử bổ sung đại biểu Hội đồng nhân dân.
Thành phần Uỷ ban bầu cử bổ sung đại biểu Hội đồng nhân dân và Ban bầu cử bổ sung đại biểu Hội đồng nhân dân gồm đại diện cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội.
Uỷ ban bầu cử bổ sung đại biểu Hội đồng nhân dân có từ ba đến năm người.
Ban bầu cử bổ sung đại biểu Hội đồng nhân dân có từ ba đến năm người.
Uỷ ban bầu cử bổ sung đại biểu Hội đồng nhân dân gồm Chủ tịch, Thư ký và các Uỷ viên.
Ban bầu cử bổ sung đại biểu Hội đồng nhân dân gồm Trưởng ban, Thư ký và các Uỷ viên.
Câu hỏi 70: Thời hạn thành lập, thành phần, số lượng thành viên Tổ bầu cử bổ sung đại biểu Hội đồng nhân dân được quy định như thế nào?
Trả lời: Theo Khoản 14 Điều 2 Luật sửa đổi, bổ sung năm 2010, chậm nhất là mười ngày trước ngày bầu cử bổ sung, Uỷ ban nhân dân cấp xã thành lập ở mỗi khu vực bỏ phiếu một Tổ bầu cử bổ sung đại biểu Hội đồng nhân dân.
Thành phần Tổ bầu cử bổ sung đại biểu Hội đồng nhân dân gồm đại diện cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội và tập thể cử tri ở địa phương.
Tổ bầu cử bổ sung đại biểu Hội đồng nhân dân có từ năm đến bảy người.
Tổ bầu cử bổ sung đại biểu Hội đồng nhân dân gồm Tổ trưởng, Tổ phó, Thư ký và các Uỷ viên.

Mục 12
XỬ LÝ NHỮNG VI PHẠM PHÁP LUẬT
VỀ BẦU CỬ
Câu hỏi 71: Việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân được pháp luật quy định như thế nào?
Trả lời: Theo quy định tại Điều 75 của Luật Bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân, việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân được quy định như sau:
- Các khiếu nại, kiến nghị về danh sách cử tri và việc lập danh sách cử tri do Uỷ ban nhân dân (cơ quan lập danh sách cử tri) giải quyết và thông báo cho người khiếu nại biết kết quả giải quyết.
- Trách nhiệm xác minh và trả lời các vụ việc mà cử tri nêu đối với người được giới thiệu ứng cử, tự ứng cử do cơ quan, tổ chức, đơn vị trực tiếp quản lý người ứng cử thực hiện hoặc phối hợp với Uỷ ban nhân dân cấp xã (người được giới thiệu ứng cử, tự ứng cử cư trú) và trả lời bằng văn bản cho Ban Thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc cấp tổ chức hiệp thương.
- Các khiếu nại, tố cáo về người ứng cử; khiếu nại, kiến nghị về những sai sót trong việc lập danh sách những người ứng cử do Ban bầu cử giải quyết theo thẩm quyền (không xem xét, giải quyết đối với những đơn khiếu nại, tố cáo nặc danh);
- Những khiếu nại tại chỗ về việc kiểm phiếu do Tổ bầu cử tiếp nhận, giải quyết và ghi rõ cách giải quyết vào biên bản. Nếu Tổ bầu cử không giải quyết được thì phải báo cáo Ban bầu cử giải quyết;
- Chuyển toàn bộ hồ sơ về khiếu nại, tố cáo chưa được giải quyết và những khiếu nại, tố cáo đã được giải quyết nhưng đương sự vẫn không đồng ý đến Thường trực Hội đồng nhân dân cùng cấp khoá mới để giải quyết theo thẩm quyền.
Câu hỏi 72: Vi phạm pháp luật về bầu cử là gì? Người có hành vi vi phạm pháp luật về bầu cử bị xử lý như thế nào?
Trả lời: Theo quy định tại Điều 76 của Luật Bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân, vi phạm pháp luật bầu cử là những hành vi trái với quy định của pháp luật về bầu cử, bao gồm các hành vi cụ thể sau đây:
- Dùng các thủ đoạn lừa gạt, gian lận, mua chuộc hoặc cưỡng ép làm trở ngại việc bầu cử, ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân của công dân;
- Người có trách nhiệm trong công tác bầu cử mà giả mạo giấy tờ, gian lận phiếu bầu hoặc dùng thủ đoạn khác làm sai lệch kết quả bầu cử;
- Cản trở hoặc trả thù người tố cáo hành vi vi phạm pháp luật.
Khi phát hiện có hành vi vi phạm pháp luật, mọi công dân đều có quyền tố cáo những việc làm trái pháp luật trong bầu cử với các tổ chức phụ trách bầu cử.
Tuỳ theo tính chất và mức độ vi phạm, người vi phạm pháp luật về bầu cử sẽ bị xử lý kỷ luật, xử lý hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ Luật hình sự về việc xâm phạm quyền tự do dân chủ của công dân.
Câu hỏi 73: Cơ quan nào có trách nhiệm xử lý những hành vi vi phạm pháp luật về bầu cử?
Trả lời: Tuỳ theo tính chất và mức độ vi phạm, thẩm quyền xử lý các hành vi vi phạm pháp luật về bầu cử được quy định như sau:
- Các tổ chức phụ trách bầu cử xử lý các khiếu nại, tố cáo, kiến nghị trong bầu cử theo quy định của Luật Bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân.
- Các cơ quan, tổ chức, đơn vị xử lý kỷ luật đối với những người do cơ quan, tổ chức, đơn vị quản lý mà có hành vi vi phạm pháp luật về bầu cử.
- Chính phủ, các Bộ, Ban, ngành, các tổ chức có liên quan và Uỷ ban nhân dân các cấp xử lý các hành vi vi phạm pháp luật về bầu cử.
- Các cơ quan tư pháp (Cơ quan điều tra, Viện Kiểm sát nhân dân, Toà án nhân dân) xử lý các vi phạm pháp luật về bầu cử thuộc các hành vi do Bộ Luật hình sự điều chỉnh.

