Phần thứ nhất: Quy định chung về bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân

Mục 1
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG

Câu hỏi 1: Cuộc bầu cử lần này có điểm gì mới?

Trả lời: Đây là lần đầu tiên cả nước tổ chức bầu cử đại biểu Quốc hội và bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp cùng một ngày (ngày 22 tháng 5 năm 2011). Trước đây, theo thông lệ các cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân tổ chức xen kẽ, cách nhau hai năm rưỡi.

Cuộc bầu cử lần này còn có điểm mới là chúng ta vừa hoàn thành thắng lợi đại hội Đảng bộ các cấp và Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng, sau đó tiến hành tổ chức ngay cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và bầu cử Hội đồng nhân dân các cấp. Do vậy, đảm bảo được sự lãnh đạo đồng bộ trong công tác cán bộ của các cấp ủy đảng từ Trung ương đến cơ sở.

Cuộc bầu cử lần này diễn ra trong bối cảnh 10 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đang tiếp tục triển khai thực hiện Nghị quyết số 26/2008/QH12 ngày 15 tháng 11 năm 2008 của Quốc hội về việc thực hiện thí điểm không tổ chức Hội đồng nhân dân huyện, quân, phường, do đó sẽ có 67 huyện, 32 quận và 483 phường không tổ chức bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân cùng cấp.

Tổ chức cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp cùng một ngày sẽ tạo điều kiện tiết kiệm thời gian, công sức của các cơ quan và của nhân dân: phù hợp với chủ trương của Đảng, nguyện vọng của nhân dân và cử tri cả nước.

Câu 2: Hội đồng nhân dân được tổ chức ở những đơn vị hành chính nào? Cơ cấu tổ chức Hội đồng nhân dân được quy định như thế nào?

Trả lời:

- Trừ một số đơn vị hành chính thực hiện thí điểm không tổ chức Hội đồng nhân dân ở  huyện, quận, phường theo Nghị quyết số 26/2008/QH12 ngày 15 tháng 11 năm 2008 của Quốc hội khoá XII, kỳ họp thứ 4 và theo Điều 4 của Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân năm 2003, Hội đồng nhân dân được tổ chức ở các đơn vị hành chính sau đây:

Tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi chung là cấp tỉnh);

Huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là cấp huyện); Xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là cấp xã).

- Theo các điều 5, 52 và 54 của Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân, cơ cấu tổ chức Hội đồng nhân dân được quy định như sau:

Hội đồng nhân dân các cấp có Thường trực Hội đồng nhân dân.

Thường trực Hội đồng nhân dân do Hội đồng nhân dân cùng cấp bầu ra; Thường trực Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện gồm Chủ tịch, Phó Chủ tịch và Uỷ viên thường trực; Thường trực Hội đồng nhân dân cấp xã gồm Chủ tịch, Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân. Thành viên của Thường trực Hội đồng nhân dân không thể đồng thời là thành viên của Uỷ ban nhân dân cùng cấp.

Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện có các Ban của Hội đồng nhân dân

Hội đồng nhân dân cấp tỉnh thành lập ba Ban: Ban Kinh tế và Ngân sách, Ban Văn hoá - Xã hội, Ban Pháp chế; nơi nào có nhiều dân tộc thì có thể thành lập Ban Dân tộc.

Hội đồng nhân dân cấp huyện thành lập hai Ban: Ban Kinh tế - Xã hội và Ban Pháp chế.

Số lượng thành viên mỗi Ban của Hội đồng nhân dân do Hội đồng nhân dân cùng cấp quyết định. Thành viên các Ban của Hội đồng nhân dân không thể đồng thời là thành viên của Uỷ ban nhân dân cùng cấp. Trưởng Ban của Hội đồng nhân dân không thể đồng thời là Thủ trưởng cơ quan chuyên môn thuộc Uỷ ban nhân dân, Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân, Chánh án Toà án nhân dân cùng cấp.

Câu hỏi 3: Đại biểu Hội đồng nhân dân cần có những tiêu chuẩn gì?

Trả lời: Đại biểu Hội đồng nhân dân là nhân tố quyết định chất lượng hoạt động của Hội đồng nhân dân, vì vậy tiêu chuẩn đại biểu Hội đồng nhân dân là điều kiện để nâng cao chất lượng hoạt động của Hội đồng nhân dân trong việc quyết định những vấn đề quan trọng của địa phương.

+ Theo quy định tại Điều 3 Luật Bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân, đại biểu Hội đồng nhân dân cần có đủ năm tiêu chuẩn sau:

- Trung thành với Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, phấn đấu thực hiện công cuộc đổi mới đất nước và xây dựng, phát triển địa phương;

- Có phẩm chất đạo đức tốt, gương mẫu chấp hành pháp luật, tự giác làm theo pháp luật mọi nơi mọi lúc, tích cực đấu tranh chống mọi biểu hiện quan liêu, hách dịch, cửa quyền, tham nhũng và các hành vi vi phạm pháp luật khác, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân; 

- Có trình độ và năng lực thực hiện nhiệm vụ đại biểu Hội đồng nhân dân, có khả năng tuyên truyền, vận động gia đình và nhân dân thực hiện chính sách, pháp luật; am hiểu tình hình kinh tế - xã hội để tham gia quyết định những vấn đề quan trọng ở địa phương;

 - Liên hệ chặt chẽ với nhân dân, lắng nghe ý kiến của nhân dân, được nhân dân tín nhiệm; 

- Có điều kiện tham gia các hoạt động của Hội đồng nhân dân.

+ Theo quy định tại Văn bản số 01-HD/BTCTW ngày 14 tháng 02 năm 2011của Ban Tổ chức Trung ương Đảng hướng dẫn về công tác nhân sự đại biểu Quốc hội khoá XIII và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2011- 2016, không đưa vào danh sách bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân những người vi phạm Quy định số 57- HD/TW ngày 03 tháng 7 năm 2007 của Bộ Chính trị hoặc có vấn đề về chính trị chưa được kết luận.

Câu hỏi 4: Đại biểu Hội đồng nhân dân có nhiệm vụ, quyền hạn gì?

Trả lời: Theo quy định tại các điều 36, 38, 39, 40, 41 và 42 của Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân, đại biểu Hội đồng nhân dân có các nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:

- Phải gương mẫu chấp hành chính sách, pháp luật của Nhà nước; có trách nhiệm tham gia vào việc quản lý nhà nước ở địa phương và tuyên truyền vận động nhân dân thực hiện chính sách, pháp luật của Nhà nước;

- Tham dự đầy đủ các kỳ họp, phiên họp của Hội đồng nhân dân, tham gia thảo luận và biểu quyết các vấn đề thuộc nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng nhân dân;

- Liên hệ chặt chẽ với cử tri ở đơn vị bầu ra mình và chịu sự giám sát của cử tri; có trách nhiệm thu thập và phản ánh trung thực ý kiến, nguyện vọng, kiến nghị của cử tri; bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cử tri; thực hiện chế độ tiếp xúc và ít nhất mỗi năm một lần báo cáo với cử tri về hoạt động của mình và của Hội đồng nhân dân, trả lời những yêu cầu và kiến nghị của cử tri;

- Có trách nhiệm báo cáo với cử tri kết quả của kỳ họp Hội đồng nhân dân, phổ biến và giải thích các Nghị quyết của Hội đồng nhân dân, vận động và cùng nhân dân thực hiện các Nghị quyết đó;

- Có trách nhiệm trả lời các yêu cầu, kiến nghị của cử tri; nghiên cứu các khiếu nại, tố cáo của cử tri để kịp thời chuyển đến người có thẩm quyền giải quyết, theo dõi, đôn đốc việc giải quyết và thông báo cho người khiếu nại, tố cáo biết;

- Có quyền chất vấn Chủ tịch Hội đồng nhân dân, Chủ tịch và các thành viên khác của Uỷ ban nhân dân, Chánh án Toà án nhân dân, Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân và Thủ trưởng cơ quan chuyên môn thuộc Uỷ ban nhân dân cùng cấp;

- Có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân kịp thời chấm dứt việc làm trái pháp luật, chính sách của Nhà nước trong cơ quan, tổ chức, đơn vị hoặc của nhân viên cơ quan, tổ chức, đơn vị đó;

- Có quyền kiến nghị với cơ quan nhà nước về việc thi hành pháp luật, chính sách chung của Nhà nước và những vấn đề thuộc lợi ích chung;

- Có quyền đề nghị Hội đồng nhân dân bỏ phiếu tín nhiệm đối với người do Hội đồng nhân dân bầu.

Câu hỏi 5: Tại sao nói bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân vừa là quyền vừa là nghĩa vụ của cử tri?

Trả lời: Ở nước ta, tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân. Nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước thông qua các hình thức dân chủ trực tiếp và dân chủ đại diện.

Bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân vừa là quyền, vừa là nghĩa vụ của cử tri, bởi vì:

- Cử tri tham gia bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân là thực hiện quyền cơ bản về bầu cử và ứng cử của công dân - những quyền chính trị cơ bản trong một nhà nước dân chủ được Hiến pháp quy định.

- Thông qua bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân, cử tri vừa thực hiện quyền chính trị của công dân đồng thời thực hiện nghĩa vụ và trách nhiệm của công dân trong việc xây dựng, tổ chức bộ máy chính quyền địa phương bằng việc lựa chọn, giới thiệu và bầu người được nhân dân tín nhiệm vào Hội đồng nhân dân - cơ quan quyền lực Nhà nước ở địa phương.

Câu hỏi 6: Nhiệm vụ, quyền hạn của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội trong bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp?

Trả lời: Theo quy định tại các điều 5, 7, 9, 54 và 79 của Luật Bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân và Điều 2 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và Luật Bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân số 63/2010/QH12 ngày 24 tháng 11 năm 2010 (sau đây gọi chung là Luật sửa đổi, bổ sung năm 2010), Uỷ ban Thường vụ Quốc hội có những nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:

- Giám sát việc bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân, đảm bảo để cuộc bầu cử tiến hành dân chủ, đúng pháp luật.

- Ấn định, công bố ngày bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp và xem xét, quyết định đối với trường hợp đặc biệt không thể tiến hành bầu cử theo đúng nhiệm kỳ Hội đồng nhân dân.

- Quyết định số lượng đại biểu Hội đồng nhân dân đối với các huyện có từ ba mươi đơn vị hành chính trực thuộc trở lên theo đề nghị của Thường trực Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.

- Quyết định hoãn ngày bỏ phiếu hoặc bỏ phiếu sớm hơn ngày bầu cử đã được ấn định.

- Phối hợp với Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam hướng dẫn việc tổ chức Hội nghị cử tri nơi làm việc và nơi cư trú.

- Quyết định việc bầu cử bổ sung và công bố ngày bầu cử bổ sung đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh.

- Giải thích và hướng dẫn thi hành Luật Bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân, Luật sửa đổi, bổ sung năm 2010 trong trường hợp luật chưa quy định rõ hoặc có trường hợp phát sinh trong quá trình bầu cử mà chưa có điều luật quy định.

Câu hỏi 7: Nhiệm vụ, quyền hạn của Chính phủ trong bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp?

Trả lời: Theo quy định tại các điều 5, 8, 34, 37, 42, 64, 68 và 74 của Luật Bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân, Chính phủ có những nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:

- Chỉ đạo Uỷ ban nhân dân các cấp thực hiện công tác bầu cử theo quy định của pháp luật.

- Đảm bảo kinh phí để tổ chức bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp.

- Phê chuẩn số lượng, danh sách các đơn vị bầu cử và số đại biểu được bầu ở mỗi đơn vị bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh.

- Phối hợp với Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tổ chức Hội nghị triển khai và tập huấn công tác bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân. 

- Phối hợp với Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam hướng dẫn quy trình hiệp thương lựa chọn, giới thiệu người ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp; trình tự, thủ tục giới thiệu người ra ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp xã ở thôn, tổ dân phố; trình tự, thủ tục tổ chức Hội nghị cử tri nơi làm việc và nơi cư trú.

- Hướng dẫn thực hiện đối với trường hợp khuyết người ứng cử vì lý do bất khả kháng.

- Trình Uỷ ban Thường vụ Quốc hội xem xét việc hoãn ngày bỏ phiếu hoặc bỏ phiếu sớm hơn ngày bầu cử đã được ấn định.

- Theo dõi, đôn đốc thực hiện cuộc bầu cử và trình Hội đồng bầu cử huỷ bỏ cuộc bầu cử ở những đơn vị bầu cử có vi phạm pháp luật nghiêm trọng để tổ chức bầu cử lại.

 - Hướng dẫn bầu cử bổ sung đại biểu Hội đồng nhân dân trong nhiệm kỳ đối với những đơn vị hành chính khuyết đại biểu Hội đồng nhân dân, đơn vị hành chính mới được sáp nhập, chia tách thành nhiều đơn vị hành chính mới hoặc mới được thay đổi cấp hành chính.

- Kiểm tra, đôn đốc việc thi hành các quy định của pháp luật về bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân và các công việc khác thuộc thẩm quyền, nhiệm vụ, quyền hạn của Chính phủ do pháp luật quy định.

- Hướng dẫn thi hành Luật Bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân và Luật sửa đổi, bổ sung năm 2010.

Câu hỏi 8: Nhiệm vụ, quyền hạn của Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp?

Trả lời: Theo quy định tại các điều 6, 34, 37 và 79 của Luật Bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân, Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam có những nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:

- Hướng dẫn Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam ở địa phương tổ chức hiệp thương lựa chọn, giới thiệu những người ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân, tham gia giám sát việc bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân.

- Phối hợp với Chính phủ hướng dẫn trình tự, thủ tục giới thiệu người ra ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp xã ở thôn, tổ dân phố.

- Chủ trì, cùng với Uỷ ban Thường vụ Quốc hội hướng dẫn trình tự, thủ tục tổ chức Hội nghị cử tri nơi làm việc và nơi cư trú. 

- Ban hành các mẫu biểu phục vụ cho công tác hiệp thương, lựa chọn, giới thiệu người ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân như các mẫu biểu dùng cho người được giới thiệu ứng cử và tự ứng cử, mẫu dùng cho cơ quan, tổ chức, đơn vị giới thiệu người ứng cử, mẫu dùng cho Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn và các mẫu biểu dùng cho Hội nghị hiệp thương.

Câu hỏi 9: Nhiệm vụ, quyền hạn của Thường trực Hội đồng nhân dân các cấp trong bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân?

Trả lời: Theo quy định tại các điều 14, 16, 17, 32, 33 và 69 của Luật Bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân, Thường trực Hội đồng nhân dân có những nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:

- Thường trực Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện dự kiến cơ cấu, thành phần, số lượng đại biểu Hội đồng nhân dân được bầu của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, tổ chức kinh tế, đơn vị vũ trang nhân dân, cơ quan nhà nước ở cấp mình và đơn vị hành chính cấp dưới; Thường trực Hội đồng nhân dân cấp xã dự kiến cơ cấu, thành phần, số lượng đại biểu Hội đồng nhân dân được bầu của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, tổ chức kinh tế, đơn vị vũ trang nhân dân, cơ quan nhà nước ở cấp mình và thôn, làng, ấp, bản, buôn, phum, sóc …(gọi chung là thôn), tổ dân phố, khu phố, khóm (gọi chung là tổ dân phố) trên địa bàn.

- Thường trực Hội đồng nhân dân các cấp phối hợp cùng Uỷ ban nhân dân và Ban Thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp trong việc thành lập Uỷ ban bầu cử, Ban bầu cử, Tổ bầu cử.

- Thường trực Hội đồng nhân dân các cấp tham dự các Hội nghị hiệp thương do Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp tổ chức để thoả thuận về cơ cấu, thành phần, số lượng người ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân để lựa chọn, giới thiệu người ra ứng cử; lập danh sách sơ bộ, danh sách chính thức những người ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân.

- Thường trực Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện điều chỉnh cơ cấu, thành phần, số lượng người của cơ quan, tổ chức, đơn vị ở địa phương được giới thiệu ứng cử, người tự ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp mình; Thường trực Hội đồng nhân dân cấp xã điều chỉnh cơ cấu, thành phần, số lượng người của cơ quan, tổ chức, đơn vị, thôn, tổ dân phố ở địa phương được giới thiệu ứng cử, người tự ứng cử của thôn, tổ dân phố.

- Thường trực Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quyết định việc bầu cử bổ sung và công bố ngày bầu cử bổ sung đại biểu Hội đồng nhân dân cấp huyện, cấp xã.

- Thường trực Hội đồng nhân dân cấp tỉnh trình Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quyết định số lượng đại biểu Hội đồng nhân dân đối với các đơn vị hành chính cấp huyện có từ ba mươi đơn vị hành chính trực thuộc trở lên.

Câu hỏi 10: Tại các đơn vị hành chính mới thành lập chưa có Hội đồng nhân dân và Thường trực Hội đồng nhân dân thì trách nhiệm, quyền hạn của Quyền Chủ tịch Hội đồng nhân dân đối với cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khoá XIII và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2011-2016 được quy định như thế nào?

Trả lời: Điều 82, Quy chế hoạt động của Hội đồng nhân dân ban hành kèm theo Nghị quyết số 753/2005/NQ-UBTVQH11 ngày 02/4/2005 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội đã quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của Quyền Chủ tịch Hội đồng nhân dân, trong đó tại Điểm đ, Khoản 2, Điều 82 đã quy định: ‘‘Thực hiện các nhiệm vụ khác của Thường trực Hội đồng nhân dân theo quy định của pháp luật.’’

Căn cứ quy định trên, Quyền Chủ tịch Hội đồng nhân dân huyện (quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh), xã (phường, thị trấn) được thực hiện các nhiệm vụ của Thường trực Hội đồng nhân dân trong công tác bầu cử đại biểu Quốc hội khoá XIII và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2011-2016.

Câu hỏi 11: Nhiệm vụ, quyền hạn của Uỷ ban nhân dân các cấp trong bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân?

Trả lời: Theo quy định của Luật Bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân các cấp có những nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:

- Quyết định việc thành lập các tổ chức phụ trách bầu cử (Uỷ ban bầu cử, Ban bầu cử, Tổ bầu cử) sau khi đã có ý kiến thống nhất của Thường trực Hội đồng nhân dân và Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp.

- Ấn định thành lập các đơn vị bầu cử và số đại biểu được bầu ở mỗi đơn vị bầu cử để trình Uỷ ban nhân dân cấp trên trực tiếp phê chuẩn, đối với cấp tỉnh thì trình Chính phủ phê chuẩn.

- Uỷ ban nhân dân cấp xã ấn định việc phân chia khu vực bỏ phiếu bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân để trình Uỷ ban nhân dân cấp trên trực tiếp phê chuẩn.

- Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn lập danh sách cử tri theo khu vực bỏ phiếu. Đối với những nơi không có đơn vị hành chính xã, phường, thị trấn, Uỷ ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh ký tên, đóng dấu thẻ cử tri của những công dân này.

- Uỷ ban nhân dân xoá tên trong danh sách cử tri và thu hồi thẻ cử tri đối với những người đến thời điểm bỏ phiếu mà bị Toà án nhân dân tước quyền bầu cử, phải chấp hành hình phạt tù, bị bắt tạm giam hoặc mất năng lực hành vi dân sự; bổ sung vào danh sách những người được khôi phục quyền bầu cử hai mươi bốn giờ trước giờ bỏ phiếu hoặc được cơ quan có thẩm quyền xác nhận không còn trong tình trạng mất năng lực hành vi dân sự.

- Giải quyết những khiếu nại của cử tri về danh sách cử tri và thông báo cho người khiếu nại biết cách giải quyết trong thời hạn năm ngày kể từ ngày nhận được khiếu nại.

- Uỷ ban nhân dân cấp xã (nơi người được giới thiệu ứng cử, người tự ứng cử cư trú) phối hợp với cơ quan, tổ chức, đơn vị giới thiệu người ứng cử hoặc trực tiếp quản lý người tự ứng cử xác minh và trả lời bằng văn bản cho Ban Thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp tổ chức hiệp thương đối với các vụ việc mà cử tri nêu lên đối với người được giới thiệu ứng cử, tự ứng cử ở khu dân cư.

- Tham dự các Hội nghị hiệp thương do Ban Thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp tổ chức.

- Phối hợp với Thường trực Hội đồng nhân dân và Ban Thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp triệu tập và chủ trì Hội nghị cử tri ở xã, phường, thị trấn theo đơn vị thôn, tổ dân phố để lấy ý kiến và tín nhiệm của cử tri đối với người ứng cử.

- Phối hợp với Thường trực Hội đồng nhân dân và Ban Thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp thành lập các tổ chức phụ trách bầu cử để tiến hành bầu cử bổ sung theo quy định của pháp luật.

Câu hỏi 12: Nhiệm vụ, quyền hạn của Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tỉnh, cấp huyện và cấp xã trong bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân?

Trả lời: Theo quy định của Luật Bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân, Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tỉnh, cấp huyện và cấp xã có những nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:

- Tham gia giám sát việc bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân.

- Phối hợp với Thường trực Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân cùng cấp trong việc thành lập Uỷ ban bầu cử, Ban bầu cử, Tổ bầu cử.

- Chủ trì tổ chức Hội nghị hiệp thương lựa chọn, giới thiệu những người ra ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân và lập danh sách sơ bộ, danh sách chính thức những người ứng cử.

- Phối hợp với Thường trực Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân cùng cấp triệu tập và chủ trì Hội nghị cử tri ở xã, phường, thị trấn để lấy ý kiến nhận xét về những người ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân.

- Tổ chức để người có tên trong danh sách những người ứng cử gặp gỡ, tiếp xúc với cử tri để tiến hành vận động bầu cử thông qua việc báo cáo với cử tri dự kiến việc thực hiện trách nhiệm của người đại biểu nếu trúng cử.

 

Mục 2
SỐ ĐẠI BIỂU HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN,
ĐƠN VỊ BẦU CỬ VÀ KHU VỰC BỎ PHIẾU

Câu hỏi 13: Đơn vị bầu cử là gì?

Trả lời: Đơn vị bầu cử là khái niệm chỉ khu vực hành chính được Uỷ ban nhân dân ấn định làm đơn vị trong cuộc bầu cử để lựa chọn, bầu người có đủ điều kiện, tiêu chuẩn thay mặt cử tri trong đơn vị làm đại biểu Hội đồng nhân dân trong đơn vị hành chính đó. Việc xác định đơn vị bầu cử được căn cứ vào số lượng dân cư và số đại biểu được bầu của cả đơn vị hành chính.

Tuỳ theo cấp bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân và tình hình cụ thể của mỗi địa phương, đơn vị bầu cử có thể là một đơn vị hành chính cấp huyện, cấp xã, nhưng cũng có thể là liên thôn, liên xã hay liên huyện.

Câu hỏi 14: Số đại biểu được bầu ở mỗi đơn vị bầu cử Hội đồng nhân dân ít nhất là bao nhiêu ?

Trả lời: Điều 10 Luật Bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân đã quy định mỗi đơn vị bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân được bầu tối đa không quá năm đại biểu. Tuy nhiên Luật chưa quy định số đại biểu tối thiểu ở mỗi đơn vị bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân.

Khoản 2 Điều 8 Nghị định 19/2004/NĐ-CP quy định: Uỷ ban nhân dân các cấp căn cứ vào tình hình cụ thể của địa phương để ấn định số đại biểu được bầu ở mỗi đơn vị bầu cử, nhưng hạn chế số đơn vị được bầu dưới ba đại biểu và trình Uỷ ban nhân dân cấp trên trực tiếp phê chuẩn.

Câu hỏi 15: Đơn vị bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp được xác định như thế nào?

Trả lời: Theo Điều 6 Nghị quyết số 1020/2011/UBTVQH12 ngày 14 tháng 02 năm 2011 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội về việc Hướng dẫn một số điểm về việc tổ chức cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khoá XIII và bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2011 - 2016 (sau đây gọi chung là Nghị quyết số 1020/2011/UBTVQH12 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội):

Đơn vị bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (gọi chung là cấp tỉnh) được xác định là huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (gọi chung là huyện), liên huyện hoặc liên xã; đơn vị bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân huyện được xác định là xã, phường, thị trấn (gọi chung là xã), liên xã hoặc liên thôn; đơn vị bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân xã được xác định là thôn, làng, ấp, bản, phum, sóc, khu dân cư, tổ dân phố (sau đây gọi chung là thôn, tổ dân phố) hoặc liên thôn, liên tổ dân phố.

Trường hợp hai đơn vị bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân ở một đơn vị hành chính huyện, xã hoặc ở một thôn, tổ dân phố, Uỷ ban nhân dân cấp bầu cử có trách nhiệm xác định ranh giới rõ ràng, hợp lý giữa các đơn vị bầu cử để tổ chức thực hiện bầu cử thuận lợi.

Câu hỏi 16: Yêu cầu cơ cấu, thành phần đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp được quy định như thế nào?

Trả lời: Theo Điều 1 Quyết định số 215/QĐ-TTg ngày 16 tháng 02 năm 2011 của Thủ tướng Chính phủ về cơ cấu, thành phần đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp phải đạt được bốn yêu cầu sau đây:

- Việc dự kiến cơ cấu, thành phần đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp phải đảm bảo phát huy dân chủ và sự lãnh đạo tập trung, thống nhất trong công tác cán bộ.

- Người được giới thiệu ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp cần phải có năng lực và điều kiện thực hiện nhiệm vụ đại biểu Hội đồng nhân dân; thường xuyên liên hệ chặt chẽ với nhân dân, lắng nghe và tôn trọng ý kiến nhân dân, không tham nhũng, luôn bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân, được nhân dân tín nhiệm.

- Đảm bảo cơ cấu hợp lý về số đại biểu là người đang công tác ở cơ quan Đảng, Nhà nước, lực lượng vũ trang, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân; có tỉ lệ hợp lý các đại biểu người dân tộc thiểu số, đại biểu nữ, đại biểu trẻ tuổi, đại biểu là trí thức, tôn giáo, đại biểu xuất thân từ công nhân, nông dân, doanh nhân tiêu biểu thuộc các thành phần kinh tế.

- Việc lựa chọn, giới thiệu người ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp phải đảm bảo các điều kiện thuận lợi để mọi công dân thực hiện đầy đủ quyền ứng cử, quyền bầu cử theo quy định của pháp luật.

Câu hỏi 17: Định hướng thực hiện cơ cấu, thành phần đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp được quy định như thế nào?

Trả lời: Theo Điều 3 Quyết định số 215/QĐ-TTg ngày 16 tháng 02 năm 2011 của Thủ tướng Chính phủ, căn cứ tình hình cụ thể của mỗi đơn vị hành chính để dự kiến và điều chỉnh cơ cấu, thành phần đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp phù hợp ở mỗi địa phương, thực hiện các định hướng cơ cấu sau đây:

- Về cơ cấu đại biểu trẻ dưới ba mươi lăm tuổi, phấn đấu đạt tỷ lệ chung không dưới 15%.  

- Về cơ cấu đại biểu là phụ nữ, phấn đấu đạt tỷ lệ chung khoảng 30% trở lên.

- Về tỷ lệ đại biểu là người ngoài Đảng, phấn đấu đạt tỷ lệ chung không dưới 10%.

- Tăng thêm một Phó Trưởng ban chuyên trách tại các Ban của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh đối với các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thực hiện thí điểm không tổ chức Hội đồng nhân dân huyện, quận, phường.

Câu hỏi 18: Việc ấn định số lượng đơn vị bầu cử, danh sách các đơn vị và số đại biểu được bầu ở mỗi đơn vị bầu cử được quy định như thế nào ? Số đại biểu được bầu ở đơn vị hành chính có nhiều đơn vị hành chính trực thuộc được quy định nhiều nhất là bao nhiêu?

Trả lời:

- Theo quy định tại Điều 11 của Luật Bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân, số đơn vị bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, danh sách các đơn vị và số đại biểu được bầu của mỗi đơn vị bầu cử do Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh ấn định và phải được Chính phủ phê chuẩn.

Số đơn vị bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp huyện, cấp xã, danh sách các đơn vị bầu cử và số đại biểu được bầu của mỗi đơn vị do Uỷ ban nhân dân cùng cấp ấn định và phải được Uỷ ban nhân dân cấp trên trực tiếp phê chuẩn.

- Theo Điều 5 Nghị quyết số 1020/2011/UBTVQH12 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, đối với các huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh quy định tại các Điểm a, b, c và d Khoản 2 Điều 9 của Luật Bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân, nếu có từ ba mươi đơn vị hành chính trực thuộc trở lên được bầu trên bốn mươi đại biểu; số lượng cụ thể do Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quyết định theo đề nghị của Thường trực Hội đồng nhân dân cấp tỉnh. 

Câu hỏi 19: Khu vực bỏ phiếu là gì? Việc phân chia khu vực bỏ phiếu được thực hiện như thế nào?

Trả lời: Theo Khoản 1 Điều 2 Luật sửa đổi, bổ sung năm 2010, mỗi đơn vị bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân mỗi cấp chia thành một hoặc nhiều khu vực bỏ phiếu.

Khu vực bỏ phiếu bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp đồng thời là khu vực bỏ phiếu bầu cử đại biểu Quốc hội.

Mỗi khu vực bỏ phiếu có từ ba trăm đến bốn nghìn cử tri.

Ở miền núi, hải đảo và những nơi dân cư không tập trung thì dù chưa có tới ba trăm cử tri cũng có thể thành lập một khu vực bỏ phiếu.

Việc chia khu vực bỏ phiếu bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp do Uỷ ban nhân dân cấp xã ấn định và phải được Uỷ ban nhân dân cấp trên trực tiếp phê chuẩn.

Đơn vị vũ trang nhân dân thành lập khu vực bỏ phiếu riêng, trừ trường hợp đơn vị vũ trang nhân dân và địa phương có chung một khu vực bỏ phiếu.

Bệnh viện, nhà an dưỡng, nhà hộ sinh, cơ sở chăm sóc người khuyết tật, cơ sở chăm sóc người cao tuổi có từ năm mươi cử tri trở lên có thể thành lập khu vực bỏ phiếu riêng.

Cơ sở giáo dục, cơ sở chữa bệnh đối với những người đang chấp hành quyết định xử lý vi phạm hành chính có thể thành lập khu vực bỏ phiếu riêng.

Câu hỏi 20: Trong cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khoá XIII và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2011- 2016, khu vực bỏ phiếu bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân đồng thời là khu vực bỏ phiếu bầu cử đại biểu Quốc hội, như vậy số cử tri được quy định như thế nào để thống nhất?

Trả lời: Trong các nhiệm kỳ trước đây, số cử tri tối đa của khu vực bỏ phiếu bầu cử đại biểu Quốc hội và số cử tri tối đa của khu vực bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp không giống nhau. Để đảm bảo thống nhất cuộc bầu cử chung đại biểu Quốc hội khoá XIII    đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2011- 2016, theo Điểm 2, Khoản 1 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung năm 2010, mỗi khu vực bỏ phiếu bầu cử đại biểu Quốc hội đã được điều chỉnh để có từ ba trăm đến bốn nghìn cử tri. Như vậy số cử tri này đồng thời tham gia bỏ phiếu bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân tại cùng một khu vực bỏ phiếu.

Mục 3
CÁC TỔ CHỨC PHỤ TRÁCH BẦU CỬ

Câu hỏi 21: Hoạt động của các tổ chức phụ trách bầu cử đại biểu Quốc hội và bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân được quy định như thế nào?

Trả lời: Điều 9 Thông tư hướng dẫn số 05/2011/TT-BNV của Bộ Nội vụ quy định như sau:

- Nguyên tắc và yêu cầu hoạt động của các tổ chức phụ trách bầu cử đại biểu Quốc hội và bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân:

  Các tổ chức phụ trách bầu cử hoạt động theo nguyên tắc tập trung dân chủ; các cuộc họp được tiến hành khi có ít nhất hai phần ba tổng số thành viên tham dự; các quyết định được thông qua khi có quá nửa số thành viên biểu quyết tán thành;

 Trong quá trình hoạt động, các tổ chức phụ trách bầu cử và các thành viên của các tổ chức này phải tuân thủ đúng nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của luật, các văn bản hướng dẫn thực hiện của các cơ quan có thẩm quyền cấp trên;

  Phân công nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể của từng thành viên các tổ chức phụ trách bầu cử từ giai đoạn chuẩn bị, triển khai đến tổ chức ngày bầu cử, công bố kết quả bầu cử và thực hiện công tác tổng kết bầu cử.

- Hoạt động của các tổ chức phụ trách bầu cử:

  Căn cứ điều kiện cụ thể, các tổ chức phụ trách bầu cử có thể trưng tập cán bộ, công chức của các cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức xã hội giúp việc theo quyết định của người đứng đầu tổ chức phụ trách bầu cử;

  Các cơ quan có thẩm quyền thành lập tổ chức phụ trách bầu cử lựa chọn những người có phẩm chất chính trị, đạo đức tốt, được quần chúng tín nhiệm, hiểu biết pháp luật và có kinh nghiệm thực hiện công tác bầu cử tham gia vào các tổ chức phụ trách bầu cử;

  Sau khi thành lập, các tổ chức phụ trách bầu cử phải tổ chức quán triệt những nhiệm vụ, quyền hạn của từng tổ chức phụ trách bầu cử đã được Luật Bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2003, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và Luật Bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2010 quy định;

  Tập huấn kỹ năng và nghiệp vụ công tác bầu cử đại biểu Quốc hội và bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân đối với các thành viên của tổ chức phụ trách bầu cử cấp mình; đặc biệt chú trọng tập huấn kỹ lưỡng đối với thành viên Tổ bầu cử;

 Trong ngày bầu cử, các thành viên Tổ bầu cử phải đeo phù hiệu của Tổ bầu cử và thực hiện đúng chức trách, nhiệm vụ được phân công;

Các tổ chức phụ trách bầu cử thực hiện chế độ báo cáo thường xuyên theo tiến độ về tình hình chuẩn bị, triển khai và tổ chức thực hiện công tác bầu cử với cơ quan có thẩm quyền cấp trên trực tiếp.

- Trách nhiệm của thành viên tổ chức phụ trách bầu cử:

Người đứng đầu tổ chức phụ trách bầu cử phải nắm vững quy định của Luật về nhiệm vụ, quyền hạn của tổ chức do mình phụ trách để phân công nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể đối với từng thành viên và đôn đốc thực hiện trong quá trình thực hiện công tác bầu cử;

Thành viên các tổ chức phụ trách bầu cử phải được tập huấn, hướng dẫn và cung cấp tài liệu có liên quan đến nhiệm vụ và nghiệp vụ tổ chức thực hiện công tác bầu cử; nắm vững và thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn được phân công; khách quan, trung thực trong quá trình thực hiện công việc được giao.

Câu hỏi 22: Chế độ làm việc của các tổ chức phụ trách bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân được quy định như thế nào?

Trả lời: Theo quy định tại Khoản 2 Điều 2 của Luật sửa đổi, bổ sung năm 2010, các tổ chức phụ trách bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân gồm Hội đồng bầu cử ở Trung ương, Uỷ ban bầu cử, Ban bầu cử và Tổ bầu cử ở địa phương.

Theo Điều 20 của Luật Bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2003, các tổ chức phụ trách bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân làm việc theo chế độ tập thể, bàn bạc, thảo luận và quyết định theo đa số các vấn đề thuộc nhiệm vụ, quyền hạn được giao.

Trường hợp thành viên tổ chức phụ trách bầu cử không đồng ý với quyết định đã được đa số thành viên tổ chức bầu cử thông qua thì vẫn phải thực hiện theo quyết định của tập thể, nhưng có quyền bảo lưu ý kiến của mình và kiến nghị cơ quan có thẩm quyền cấp trên xem xét, giải quyết.

Câu hỏi 23: Trường hợp đơn vị bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp xã chỉ có một khu vực bỏ phiếu thì nhiệm vụ và số lượng thành viên của Ban bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp xã và Tổ bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân được quy định như thế nào? Con dấu Ban bầu cử và Tổ bầu cử trường hợp này được sử dụng như thế nào?

Trả lời:

+ Tại đơn vị bầu cử chỉ có một khu vực bỏ phiếu, thành viên Ban bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp xã kiêm nhiệm vụ thành viên Tổ bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân; thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của các luật về bầu cử.

+ Về số lượng thành viên của Ban bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp xã và Tổ bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân:

Ban bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp xã có từ bảy đến chín thành viên, Tổ bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân có từ mười một đến hai mươi mốt thành viên (trong đó có số thành viên của Ban bầu cử)

+ Về việc đóng dấu của Ban bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp xã kiêm nhiệm vụ Tổ bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân:

- Đóng dấu của Ban bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp xã trong biên bản kiểm phiếu và xác định kết quả bầu cử  đại biểu Hội đồng nhân dân cấp xã.

- Đóng dấu của Tổ bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân trong biên bản kiểm kê việc sử dụng phiếu bầu cử đại biểu Quốc hội khoá XIII và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2011-2016, phiếu bầu cử đại biểu Quốc hội khoá XIII, phiếu bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp; biên bản kiểm phiếu bầu cử đại biểu Quốc hội khoá XIII và biên bản kiểm phiếu bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện...

Như vậy trong trường hợp trên phải có hai quyết định: Thành lập Ban bầu cử và thành lập Tổ bầu cử; đồng thời có hai con dấu của các tổ chức trên để thực hiện nhiệm vụ về bầu cử (khi thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của Tổ bầu cử thì đóng dấu của Tổ bầu cử, khi thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của Ban bầu cử thì đóng dấu của Ban bầu cử).

Câu hỏi 24: Thay đổi, bổ sung hoặc giữ nguyên thành viên tổ chức phụ trách bầu cử được quy định như thế nào?

Trả lời: Theo quy định tại Điều 7 Thông tư số 05 /2011/TT-BNV của Bộ Nội vụ, trường hợp thành viên tổ chức phụ trách bầu cử bị chết, bị kỷ luật, bị truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc vì lý do khác dẫn đến khuyết thành viên tổ chức phụ trách bầu cử thì căn cứ tình hình cụ thể của mỗi địa phương, Uỷ ban nhân dân, sau khi thống nhất với Thường trực Hội đồng nhân dân và Ban Thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc cùng cấp quyết định thay đổi, bổ sung thành viên hoặc giữ nguyên số thành viên còn lại của các tổ chức phụ trách bầu cử ở cấp mình.

Câu hỏi 25: Các tổ chức phụ trách bầu cử và thành viên của các tổ chức đó có được vận động bầu cử cho người ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân không? Tại sao?

Trả lời: Theo quy định tại Điều 19 của Luật Bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2003, các tổ chức phụ trách bầu cử và các thành viên của các tổ chức này không được vận động bầu cử cho những người ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân.

Việc pháp luật quy định các tổ chức phụ trách bầu cử và thành viên của các tổ chức đó không được vận động bầu cử cho người ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân nhằm bảo đảm tính khách quan trong quá trình tổ chức cuộc bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp ở địa phương. Đồng thời, cũng bảo đảm cho những người ứng cử được bình đẳng về điều kiện và cơ hội khi ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp.

 

Mục 4
DANH SÁCH CỬ TRI

Câu hỏi 26: Việc lập danh sách cử tri được tiến hành theo thủ tục và trình tự như thế nào?

Trả lời: Theo quy định tại các điều 23, 24 của Luật Bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2003; các khoản 1, 3 Điều 2 của Nghị quyết số 1020/2011/UBTVQH12 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, danh sách cử tri do Uỷ ban nhân dân cấp xã lập theo khu vực bỏ phiếu, danh sách cử tri trong các đơn vị vũ trang nhân dân do Ban chỉ huy đơn vị lập theo khu vực bỏ phiếu.

 - Trong thời gian lập danh sách cử tri, những công dân có quyền bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân đều được ghi tên vào danh sách cử tri; mỗi cử tri chỉ được ghi tên vào một danh sách cử tri nơi mình đã đăng ký thường trú và thực hiện quyền bầu cử tại nơi đó.

- Sinh viên, học sinh, học viên có sổ tạm trú ở các trường chuyên nghiệp, trường đại học, trường cao đẳng, trường trung học chuyên nghiệp và quân nhân ở các đơn vị vũ trang nhân dân được ghi tên vào danh sách cử tri ở nơi học tập, công tác hoặc đóng quân để tham gia bầu đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh và cấp huyện.

 - Quân nhân có hộ khẩu thường trú ở địa phương thì được ghi tên vào danh sách cử tri nơi mình cư trú.

Câu hỏi 27: Thẻ cử tri của công dân được quy định như thế nào?

Trả lời: Theo Điều 19 Nghị quyết số 1020/2011/UBTVQH12 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội:

 - Thẻ cử tri của công dân ở xã, phường, thị trấn do Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã nơi lập danh sách cử tri ký tên và đóng dấu.

- Thẻ cử tri của quân nhân ở đơn vị vũ trang nhân dân do Chỉ huy đơn vị ký tên và đóng dấu.

- Đối với những nơi không có đơn vị hành chính xã, phường, thị trấn, Uỷ ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh ký tên, đóng dấu thẻ cử tri của những công dân này.

Câu hỏi 28: Việc lập danh sách cử tri đối với người thay đổi nơi cư trú trong thời gian lập danh sách cử tri được thực hiện như thế nào?

Trả lời: Theo quy định tại Điều 23 của Luật Bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân và Khoản 2 Điều 2 Nghị quyết số 1020/2011/UBTVQH12 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, việc lập danh sách cử tri đối với người thay đổi nơi cư trú trong thời gian lập danh sách cử tri, được quy định như sau:

Những người có giấy chứng nhận chuyển đi của cơ quan có thẩm quyền của nơi cư trú cũ thì được ghi tên vào danh sách cử tri tại nơi cư trú mới để tham gia bầu cử.

Những người thay đổi nơi cư trú trong phạm vi một đơn vị hành chính cấp huyện được ghi tên vào danh sách cử tri để bầu đại biểu Hội đồng nhân dân cấp huyện, cấp tỉnh;

Những người thay đổi nơi cư trú trong phạm vi một đơn vị hành chính cấp tỉnh được ghi tên vào danh sách cử tri để bầu đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh.

Câu hỏi 29: Những người tạm vắng khỏi nơi cư trú kể từ ngày niêm yết danh sách cử tri cho đến ngày bỏ phiếu vì các lý do khác nhau thì ghi tên vào danh sách cử tri ở đâu để thực hiện quyền bầu cử?

Trả lời:

- Đối với cán bộ, công chức, viên chức, chiến sỹ thuộc đơn vị vũ trang nhân dân đang đi công tác và những người di cư tự do, đi lao động, làm việc, đi thăm người thân, đi du lịch:

Theo quy định tại Khoản 4 Điều 2 Nghị quyết số 1020 /2011/UBTVQH12 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, cán bộ, công chức, viên chức, chiến sỹ thuộc đơn vị vũ trang nhân dân đang đi công tác và những người di cư tự do, đi lao động, làm việc, đi thăm người thân, đi du lịch ở nơi nào thì xuất trình với Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi mới đến Thẻ cử tri hoặc Giấy chứng nhận “Đi bỏ phiếu nơi khác” do Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi cư trú hoặc do chỉ huy đơn vị vũ trang nhân dân cấp để được ghi tên bổ sung vào danh sách cử tri, tham gia bỏ phiếu ở nơi đó và được tính vào tổng số cử tri ở nơi mới đến.

Nếu họ chưa có Thẻ cử tri hoặc Giấy chứng nhận “Đi bỏ phiếu nơi khác” thì Uỷ ban nhân dân cấp xã yêu cầu những người này liên hệ với Uỷ ban nhân dân cấp xã  hoặc chỉ huy đơn vị vũ trang nhân dân nơi lập danh sách cử tri trước ngày niêm yết danh sách cử tri để nhận Thẻ cử tri hoặc Giấy chứng nhận “Đi bỏ phiếu nơi khác” để được bầu cử ở nơi mới đến.

- Đối với công dân Việt Nam công tác, lao động, học tập, du lịch, thăm người thân hoặc định cư ở nước ngoài trở về Việt Nam trong khoảng thời gian từ sau khi danh sách cử tri đã được niêm yết đến trước thời điểm bỏ phiếu hai mươi bốn giờ: Đến Uỷ ban nhân dân cấp xã xuất trình Hộ chiếu có ghi quốc tịch Việt Nam để ghi tên vào danh sách cử tri và nhận Thẻ cử tri để được bầu đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện và cấp xã (nếu xuất trình tại nơi đăng ký hộ khẩu thường trú); được bầu đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện (nếu xuất trình tại nơi đăng ký hộ khẩu tạm trú).

Câu hỏi 30: Những trường hợp không được ghi tên, xoá tên hoặc bổ sung tên vào danh sách cử tri được quy định như thế nào?

Trả lời: Khoản 8 Điều 2 Nghị quyết số 1020/2011/UBTVQH12 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, Điều 25 của Luật Bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2003 quy định như sau:

- Những người đang bị tước quyền bầu cử theo bản án, quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp luật, người đang phải chấp hành hình phạt tù, người đang bị tạm giam và người mất năng lực hành vi dân sự thì không được ghi tên vào danh sách cử tri để thực hiện quyền bầu cử.

- Người thuộc các trường hợp quy định trên đây nếu đến trước thời điểm bắt đầu bỏ phiếu hai mươi bốn giờ mà được khôi phục lại quyền bầu cử, được trả tự do hoặc được cơ quan có thẩm quyền xác nhận không còn trong tình trạng mất năng lực hành vi dân sự thì được bổ sung vào danh sách cử tri và được phát thẻ cử tri.

- Người đã có tên trong danh sách cử tri để thực hiện quyền bầu cử mà đến thời điểm bắt đầu bỏ phiếu bị Toà án tước quyền bầu cử, phải chấp hành hình phạt tù, bị bắt tạm giam hoặc bị mất năng lực hành vi dân sự thì Uỷ ban nhân dân cấp xã xoá tên người đó trong danh sách cử tri và thu hồi thẻ cử tri.

Câu hỏi 31: Việc niêm yết danh sách cử tri được thực hiện như thế nào?

Trả lời: Theo quy định tại Điều 26 của Luật Bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2003, chậm nhất là ba mươi lăm ngày trước ngày bầu cử, cơ quan lập danh sách cử tri niêm yết danh sách đó tại trụ sở Uỷ ban nhân dân cấp xã và tại những nơi công cộng của khu vực bỏ phiếu, đồng thời thông báo rộng rãi danh sách cử tri và việc niêm yết để nhân dân kiểm tra.

Sau khi danh sách cử tri được niêm yết, Uỷ ban nhân dân cấp xã cần phân công người theo dõi để kịp thời thay thế trong trường hợp danh sách niêm yết bị rách, bị mất hoặc bị mờ, đọc không rõ chữ.

Câu hỏi 32: Các khiếu nại về danh sách cử tri do cơ quan nào giải quyết?

Trả lời: Theo quy định tại Điều 27 của Luật Bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2003, các khiếu nại về danh sách cử tri được giải quyết theo trình tự, thủ tục như sau:

- Khi kiểm tra danh sách cử tri nếu thấy có sai sót thì trong thời hạn hai mươi lăm ngày kể từ ngày niêm yết, mọi người có quyền khiếu nại bằng miệng hoặc bằng văn bản với cơ quan lập danh sách cử tri.

- Khi nhận được khiếu nại, cơ quan lập danh sách cử tri phải ghi vào sổ những khiếu nại đó. Trong thời hạn năm ngày kể từ ngày nhận được khiếu nại, cơ quan lập danh sách cử tri phải giải quyết và thông báo cho người khiếu nại biết kết quả giải quyết.

- Nếu người khiếu nại không đồng ý về cách giải quyết đó thì có quyền khiếu nại lên Toà án nhân dân cấp huyện. Trong thời hạn năm ngày kể từ ngày nhận được khiếu nại, Toà án nhân dân phải giải quyết xong. Quyết định của Toà án nhân dân là quyết định cuối cùng.

Câu hỏi 33: Cử tri thay đổi nơi cư trú sau khi niêm yết danh sách cử tri, có được ghi tên vào danh sách cử tri để tham gia bỏ phiếu ở nơi cư trú mới hay không?

Trả lời: Theo quy định tại Điều 28 của Luật Bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2003, từ khi niêm yết danh sách cử tri cho đến ngày bầu cử, nếu cử tri nào thay đổi nơi cư trú thì có quyền xin giấy chứng nhận của Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi đang cư trú để được ghi tên vào danh sách cử tri và tham gia bỏ phiếu ở nơi cư trú mới.

Khi cấp giấy chứng nhận, Uỷ ban nhân dân phải ghi ngay vào danh sách cử tri bên cạnh tên người đó: “Đi bỏ phiếu nơi khác.”

Bình luận