Mục 6: Bầu cử và bỏ phiếu

Mục 6

BẦU CỬ VÀ BỎ PHIẾU

Câu 91: Ngày bầu cử được quy định như thế nào? Trong trường hợp nào thì hoãn ngày bỏ phiếu hoặc bỏ phiếu sớm hơn ngày quy định? Ai có quyền quyết định?

Trả lời: Việc bỏ phiếu bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp được tiến hành trong cùng một ngày trên cả nước.

Ngày bầu cử phải là ngày chủ nhật, do Uỷ ban thường vụ Quốc hội ấn định và công bố chậm nhất là một trăm lẻ năm ngày trước ngày bầu cử để bảo đảm mọi công dân có điều kiện tham gia thực hiện một cách đầy đủ quyền bầu cử của mình.

Trong trường hợp đặc biệt do thiên tai, địch hoạ hoặc ở hải đảo, vùng núi, vùng cao, vùng xa, vùng sâu, vùng đi lại khó khăn... cần hoãn ngày bỏ phiếu hoặc bỏ phiếu sớm hơn ngày quy định ở khu vực bỏ phiếu nào, thì Tổ bầu cử ở khu vực bỏ phiếu đó phải kịp thời báo cáo Ban bầu cử để đề nghị Uỷ ban bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh trình Hội đồng bầu cử xem xét, quyết định.

Câu 92: Việc bỏ phiếu được bắt đầu và kết thúc khi nào? Việc bỏ phiếu có thể bắt đầu sớm và kết thúc sớm hoặc muộn hơn không? Ai có quyền quyết định?

Trả lời: Việc bỏ phiếu bắt đầu từ 7 giờ sáng đến 7 giờ tối cùng ngày. Đây là khoảng thời gian thuận lợi và phù hợp nhất đối với mọi người trong ngày. Tuy nhiên, tuỳ tình hình thực tế ở địa phương, Tổ bầu cử có thể quyết định cho bắt đầu bỏ phiếu sớm hơn, nhưng không được trước 5 giờ sáng hoặc kết thúc muộn hơn nhưng không quá 10 giờ đêm.

Trong ngày bầu cử, các thành viên của Tổ bầu cử phải đến sớm hơn 7 giờ sáng hoặc sớm hơn giờ khai mạc mà Tổ đã quy định để kiểm tra nơi bỏ phiếu và tiến hành khai mạc cuộc bỏ phiếu.

Khi đã hết giờ bỏ phiếu, nếu còn cử tri ở phòng bỏ phiếu mà chưa kịp bỏ phiếu thì chỉ sau khi số cử tri này bỏ phiếu xong, Tổ bầu cử mới được tuyên bố kết thúc cuộc bỏ phiếu. 

Câu 93: Phòng bỏ phiếu được trang trí như thế nào?

Trả lời: Mỗi khu vực bỏ phiếu phải có một hoặc nhiều địa điểm bỏ phiếu.

Địa điểm bỏ phiếu được bố trí ở những nơi công cộng, như trụ sở Uỷ ban nhân dân, trường học, câu lạc bộ, những nơi trung tâm… thuận tiện cho cử tri cũng như thuận lợi cho việc bố trí các trang thiết bị phục vụ cho cuộc bầu cử. Các địa điểm bỏ phiếu cần được trang trí trang nghiêm, thống nhất, bảo đảm tiết kiệm. Ngoài việc trang trí cờ, biểu ngữ… mỗi nơi bỏ phiếu cần có những trang bị thiết yếu như hòm phiếu, bàn ghế, bút, mực ...có nội quy phòng bỏ phiếu, danh sách cử tri, các phòng kín đủ ánh sáng để cử tri thực hiện việc bỏ phiếu. Tổ bầu cử có nhiệm vụ bố trí phòng bỏ phiếu.

Câu 94: Nội quy phòng bỏ phiếu được quy định như thế nào?

Trả lời: Để cho cuộc bầu cử có kết quả, đồng thời bảo đảm tính dân chủ, hợp pháp của cuộc bầu cử, nhất là trong ngày bỏ phiếu, các tổ chức phụ trách bầu cử và mọi công dân phải nghiêm chỉnh chấp hành Luật bầu cử và những văn bản pháp luật về bầu cử. Ngoài ra, mọi người đều phải tuân theo nội quy của phòng bỏ phiếu.

Nội quy phòng bỏ phiếu là tập hợp các quy định do Tổ bầu cử căn cứ vào điều kiện cụ thể nơi bỏ phiếu đề ra, bảo đảm cho việc bầu cử được tiến hành dân chủ, đúng pháp luật và bảo đảm trật tự, an toàn. Nội quy phòng bỏ phiếu căn cứ vào:

- Các quy định của Luật bầu cử;

- Các quy định về bảo vệ an toàn, trị an;

- Các quy định về phòng cháy, chữa cháy;

- Các quy định hướng dẫn cách bỏ phiếu.

Câu 95: Trước khi bỏ phiếu, Tổ bầu cử có phải kiểm tra hòm phiếu trước sự chứng kiến của cử tri không?

Trả lời: Trước khi bỏ phiếu, Tổ bầu cử phải kiểm tra hòm phiếu trước sự chứng kiến của cử tri để bảo đảm tính công khai, khách quan và thực hiện nguyên tắc nhân dân kiểm tra. Đây cũng là hình thức để cử tri trực tiếp giám sát cuộc bầu cử.

Đúng 7 giờ sáng hoặc đúng giờ quy định, Tổ trưởng Tổ bầu cử mời đại diện những cử tri có mặt tại phòng bỏ phiếu chứng kiến việc kiểm tra hòm phiếu. Sau khi kiểm tra hòm phiếu (không có gì ở trong), hòm phiếu được niêm phong bằng dấu của Tổ bầu cử, thì cuộc bỏ phiếu mới được bắt đầu. Trường hợp hòm phiếu có khoá thì Tổ trưởng khoá lại và phải niêm phong.

Câu 96: Cử tri có được bầu cử thay không?

Trả lời: Việc bầu cử được tiến hành theo nguyên tắc trực tiếp, theo đó cử tri phải tự mình đi bầu, trực tiếp viết phiếu bầu và bỏ phiếu vào hòm phiếu. Cử tri không được bầu bằng cách gửi thư hoặc nhờ người khác bầu thay.

Trong trường hợp do ốm đau, già yếu, tàn tật không thể đến phòng bỏ phiếu được thì Tổ bầu cử mang hòm phiếu phụ và phiếu bầu đến chỗ ở của cử tri để cử tri nhận phiếu và bầu; nếu không tự mình viết được phiếu bầu thì được phép nhờ người khác viết hộ, nhưng cử tri phải tự bỏ phiếu vào hòm phiếu. Trong trường hợp đặc biệt vì lý do sức khỏe, tàn tật mà cử tri không thể tự bỏ phiếu thì được phép nhờ người khác bỏ phiếu vào hòm phiếu.

Câu 97: Người không tự mình viết được phiếu bầu có được nhờ người khác viết hộ hay không?

Trả lời: Theo nguyên tắc bầu cử trực tiếp thì cử tri phải tự mình viết phiếu và tự bỏ lá phiếu của mình vào hòm phiếu để lựa chọn người đủ tín nhiệm làm đại biểu Quốc hội. Tuy nhiên, Luật bầu cử đại biểu Quốc hội có quy định tạo điều kiện cho những cử tri do ốm đau, tàn tật, già yếu mà không thể tự viết phiếu bầu thì có thể nhờ người khác viết hộ, nhưng phải tự mình bỏ phiếu vào hòm phiếu. Người viết phiếu hộ phải bảo đảm tuyệt đối giữ bí mật phiếu bầu của cử tri. Trường hợp cử tri vì tàn tật không thể tự bỏ phiếu thì được phép nhờ người khác bỏ phiếu vào hòm phiếu.

Câu 98: Việc đóng dấu “đã bỏ phiếu” vào thẻ cử tri được thực hiện như thế nào?

Trả lời: Tại khu vực bỏ phiếu, cử tri xuất trình thẻ cử tri và được Tổ bầu cử phát phiếu bầu cử theo mẫu quy định, có đóng dấu của Tổ bầu cử. Khi cử tri viết phiếu bầu cử, không ai được xem, kể cả thành viên Tổ bầu cử.

Khi cử tri đã bỏ phiếu xong, Tổ bầu cử có trách nhiệm đóng dấu “đã bỏ phiếu” vào thẻ cử tri. Việc đóng dấu “đã bỏ phiếu” là sự xác nhận cử tri đó đã hoàn thành quyền và nghĩa vụ bầu cử của mình.

Câu 99: Hòm phiếu phụ là gì? Trong trường hợp nào thì dùng hòm phiếu phụ?

Trả lời: Tại các khu vực bỏ phiếu, tuỳ tình hình cụ thể của từng nơi để bố trí ít nhất một hòm phiếu, nhiều nơi bố trí hai đến ba hòm phiếu để cử tri đến bỏ phiếu. Những địa điểm đặt hòm phiếu như vậy được hiểu là hòm phiếu chính và yêu cầu tất cả các cử tri có tên ghi trong danh sách cử tri đến bỏ phiếu trực tiếp. Ngoài ra, tại mỗi khu vực bỏ phiếu, Tổ bầu cử thường chuẩn bị hòm phiếu phụ. Hình dáng, kích thước của hòm phiếu phụ nhỏ hơn hòm phiếu chính. Trong trường hợp cử tri ốm đau, già yếu, tàn tật không thể đến phòng bỏ phiếu được thì Tổ bầu cử mang hòm phiếu phụ và phiếu bầu đến tận chỗ ở của cử tri để cử tri nhận phiếu và trực tiếp bỏ phiếu. Trước khi tiến hành bỏ phiếu vào hòm phiếu phụ cũng phải tuân thủ các bước: kiểm tra hòm phiếu trước sự chứng kiến của hai cử tri, khoá lại và niêm phong rồi mới tiến hành bỏ phiếu.

Câu 100: Những sự kiện bất ngờ làm gián đoạn cuộc bỏ phiếu được xử lý như thế nào?

Trả lời: Luật bầu cử đại biểu Quốc hội quy định việc bỏ phiếu phải được tiến hành liên tục trong ngày bầu cử. Trường hợp có những sự kiện bất ngờ làm gián đoạn cuộc bỏ phiếu, thì Tổ bầu cử phải lập tức niêm phong hòm phiếu, tài liệu liên quan trực tiếp đến cuộc bầu cử, kịp thời báo cho Ban bầu cử biết, đồng thời phải có những biện pháp cần thiết để việc bỏ phiếu được tiếp tục.

Trường hợp vì lý do đặc biệt phải hoãn ngày bỏ phiếu, thì Tổ bầu cử phải kịp thời báo cáo cho Ban bầu cử biết để đề nghị Ủy ban bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh trình Hội đồng bầu cử xem xét, quyết định.

Câu 101: Việc kiểm phiếu được tiến hành như thế nào? Những ai có quyền kiểm phiếu? Những ai được chứng kiến việc kiểm phiếu?

Trả lời:

Việc kiểm phiếu phải được tiến hành tại phòng bỏ phiếu ngay sau khi cuộc bỏ phiếu kết thúc. Trước khi mở hòm phiếu, Tổ bầu cử phải thống kê, lập biên bản, niêm phong tất cả số phiếu bầu không sử dụng đến. Người được chứng kiến việc kiểm phiếu gồm: hai cử tri biết đọc, biết viết không phải là người ứng cử, người ứng cử, đại diện cơ quan, đơn vị giới thiệu người ứng cử hoặc người được uỷ nhiệm, các phóng viên báo chí. Sau đó, Tổ bầu cử tiến hành việc kiểm phiếu với các nhiệm vụ sau đây:

- Xác định tổng số phiếu bầu đã phát ra;

- Xác định tổng số cử tri tham gia bỏ phiếu; nghiêm cấm việc bỏ phiếu sau khi đã mở hòm phiếu;

- Kiểm tra hòm phiếu và tiến hành mở hòm phiếu (cả hòm phiếu phụ nếu có);

- Xác định tổng số phiếu được lấy ra từ hòm phiếu;

- So sánh tổng số phiếu được lấy ra từ hòm phiếu với số phiếu đã phát ra và với tổng số cử tri tham gia bỏ phiếu;

- Xác định số phiếu hợp lệ;

- Xác định số phiếu không hợp lệ;

- Đếm số phiếu bầu cho mỗi người ứng cử;

- Giải quyết những khiếu nại, tố cáo về bầu cử hoặc chuyển đến Ban bầu cử giải quyết;

- Làm biên bản kết quả kiểm phiếu;

- Biên bản được gửi đến Ban bầu cử và Ủy ban nhân dân, Ban thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc xã, phường, thị trấn;

- Giao biên bản kết quả kiểm phiếu và toàn bộ phiếu bầu cho Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn.

Câu 102: Những phiếu bầu cử nào là phiếu hợp lệ?

Trả lời: Những phiếu bầu cử sau đây là phiếu hợp lệ:

- Phiếu bầu theo mẫu quy định do Tổ bầu cử phát, có dấu của Tổ bầu cử;

- Phiếu bầu đủ hoặc ít hơn số đại biểu  mà đơn vị bầu cử được bầu;

- Phiếu bầu gạch tên ứng cử viên không được tín nhiệm bằng cách gạch chéo, gạch xiên, gạch dọc hoặc gạch ngang, nhưng phải gạch hết họ và tên.

Câu 103: Những phiếu bầu cử nào là phiếu không hợp lệ?

Trả lời: Những phiếu bầu cử sau đây là phiếu không hợp lệ:

- Phiếu không theo mẫu quy định do Tổ bầu cử phát;

- Phiếu không có dấu của Tổ bầu cử;

- Phiếu để số người được bầu quá số đại biểu mà đơn vị bầu cử được bầu (ví dụ được bầu 2 đại biểu mà để tên 3 người);

- Phiếu gạch, xoá hết họ, tên tất cả những người ứng cử;

- Phiếu ghi tên người ngoài danh sách những người ứng cử; phiếu có viết thêm; phiếu gạch vào khoảng cách giữa họ và tên hai ứng cử viên; phiếu khoanh tròn họ và tên ứng cử viên.

Câu 104: Các khiếu nại tại chỗ về việc kiểm phiếu được giải quyết như thế nào?

Trả lời: Những khiếu nại tại chỗ về việc kiểm phiếu phải được chuyển kịp thời cho Tổ bầu cử. Tổ trưởng Tổ bầu cử phải phân công một thành viên của Tổ bầu cử tiếp nhận, ghi vào sổ trực của Tổ, sau đó chuyển cho Tổ trưởng giải quyết. Nội dung của khiếu nại và cách giải quyết phải được ghi vào biên bản kiểm phiếu.

Trường hợp những khiếu nại mà Tổ bầu cử không giải quyết được hoặc việc giải quyết vượt quá thẩm quyền thì phải ghi rõ ý kiến của Tổ vào biên bản và kịp thời chuyển Ban bầu cử giải quyết.

Câu 105: Biên bản kiểm phiếu bầu cử đại biểu Quốc hội của Tổ bầu cử gồm những nội dung gì?

Trả lời: Sau khi kiểm phiếu xong, Tổ bầu cử phải lập biên bản kết quả kiểm phiếu. Biên bản kiểm phiếu bầu cử đại biểu Quốc hội của Tổ bầu cử gồm những nội dung sau đây:

- Số thứ tự khu vực bỏ phiếu, gồm những đơn vị hành chính nào;

- Thành phần của Tổ bầu cử;

- Họ và tên người chứng kiến việc kiểm phiếu;

- Tổng số cử tri của khu vực bỏ phiếu;

- Số cử tri đã tham gia bỏ phiếu;

- Tỷ lệ cử tri đã tham gia bỏ phiếu so với tổng số cử tri;

- Số cử tri là khách vãng lai đã tham gia bỏ phiếu;

- Số phiếu phát ra;

- Số phiếu thu vào;

- Số phiếu hợp lệ; tỷ lệ so với tổng số phiếu đã bầu;

- Số phiếu không hợp lệ; tỷ lệ so với tổng số phiếu đã bầu;

- Số phiếu bầu cho mỗi người ứng cử;

- Những phiếu nghi là không hợp lệ đã được đưa ra Tổ để giải quyết;

- Tóm tắt những sự việc đã xẩy ra;

- Những khiếu nại đã nhận được trong việc bầu cử và cách giải quyết của Tổ bầu cử; những khiếu nại chưa được giải quyết chuyển đến Ban bầu cử.

Biên bản được lập thành ba bản theo mẫu số 5/BCĐBQH do Hội đồng bầu cử quy định, có chữ ký của Tổ trưởng, Thư ký và hai cử tri được mời chứng kiến việc kiểm phiếu. Biên bản được gửi đến Ban bầu cử, Uỷ ban nhân dân, Ban thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc xã, phường, thị trấn chậm nhất là ba ngày sau ngày bầu cử.

Câu 106: Biên bản xác định kết quả bầu cử đại biểu Quốc hội của Ban bầu cử ở đơn vị bầu cử gồm những nội dung gì?

Trả lời: Sau khi nhận được biên bản kết quả kiểm phiếu của các Tổ bầu cử, Ban bầu cử kiểm tra các biên bản đó và lập biên bản xác định kết quả bầu cử ở đơn vị bầu cử của mình.

Biên bản xác định kết quả bầu cử của Ban bầu cử theo mẫu của Hội đồng bầu cử ban hành phải ghi rõ những nội dung sau đây:

- Số thứ tự đơn vị bầu cử, gồm các huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh nào;

- Thành phần của Ban bầu cử;

- Số đại biểu Quốc hội được ấn định cho đơn vị bầu cử;

- Số người ứng cử đại biểu Quốc hội;

- Tổng số cử tri của đơn vị bầu cử; trong đó tổng số cử tri nam; tổng số cử tri nữ; tỷ lệ nam (%) so với tổng số danh sách cử tri; tỷ lệ nữ (%) so với tổng số danh sách cử tri;

- Số cử tri đã tham gia bỏ phiếu; trong đó tổng số cử tri nam; tổng số cử tri nữ; tỷ lệ nam (%) so với tổng số cử tri đã tham gia bỏ phiếu; tỷ lệ nữ (%) so với tổng số cử tri đã tham gia bỏ phiếu;

- Tỷ lệ (%) cử tri đã tham gia bỏ phiếu so với tổng số cử tri;

- Số phiếu hợp lệ; tỷ lệ so với tổng số phiếu đã bầu

- Số phiếu không hợp lệ; tỷ lệ so với tổng số phiếu đã bầu

- Số phiếu bầu cho mỗi người ứng cử và tỷ lệ (%)  số phiếu bầu so với tổng số phiếu hợp lệ;

- Danh sách những người trúng cử; số đại biểu còn thiếu; đề nghị Uỷ ban bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, Hội đồng bầu cử xem xét việc bầu cử thêm; tóm tắt những sự việc xảy ra;

- Những khiếu nại do các Tổ bầu cử đã giải quyết, những khiếu nại do Ban bầu cử giải quyết, những khiếu nại chuyển đến Uỷ ban bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, Hội đồng bầu cử.

Biên bản được lập thành năm bản, theo mẫu số 6/BCĐBQH do Hội đồng bầu cử quy định, có chữ ký của Trưởng ban, các Phó Trưởng ban và Thư ký. Biên bản được gửi đến Hội đồng bầu cử, Uỷ ban bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, Thường trực Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân, Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương chậm nhất là năm ngày sau ngày bầu cử.

Câu 107: Nguyên tắc xác định người trúng cử được quy định như thế nào?

Trả lời: Nguyên tắc xác định người trúng cử là người có đủ hai điều kiện như sau:

- Có số phiếu bầu đạt quá nửa tổng số phiếu hợp lệ;

- Được nhiều phiếu hơn.

Trong trường hợp nhiều người được số phiếu bằng nhau thì người nhiều tuổi hơn là người trúng cử.

Câu 108: Bầu cử thêm là gì? Việc bầu cử thêm phải tuân theo những trình tự, thủ tục nào?

Trả lời: Bầu cử thêm là cuộc bầu cử do Hội đồng bầu cử quyết định cho đơn vị bầu cử mà ở lần bầu cử đầu tiên có số người trúng cử chưa đủ số lượng đại biểu được ấn định.

Khi lập biên bản xác định kết quả bầu cử ở đơn vị bầu cử đó, Ban bầu cử phải ghi rõ vào biên bản và báo cáo ngay cho Ủy ban bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh để đề nghị Hội đồng bầu cử xem xét, quyết định việc bầu cử thêm.

Cuộc bầu cử được tiến hành chậm nhất là hai mươi ngày sau cuộc bầu cử đầu tiên. Bầu cử thêm không phải thực hiện lại các bước hiệp thương giới thiệu, lựa chọn người ứng cử, mà cử tri chỉ chọn bầu trong danh sách những người đã ứng cử lần đầu chưa trúng cử. Danh sách cử tri của cuộc bầu cử thêm vẫn căn cứ vào danh sách cử tri trong cuộc bầu cử đầu tiên. Trong cuộc bầu cử thêm người trúng cử phải là người được quá nửa số phiếu hợp lệ và được nhiều phiếu hơn. Trường hợp bầu cử thêm mà vẫn chưa đủ số đại biểu theo quy định thì không tổ chức bầu cử thêm lần thứ hai.

Câu 109: Bầu cử lại là gì? Việc bầu cử lại phải tuân theo những trình tự, thủ tục nào?

Trả lời: Bầu cử lại là cuộc bầu cử do Hội đồng bầu cử quyết định cho một đơn vị bầu cử mà ở lần bầu cử đầu tiên có số cử tri đi bỏ phiếu chưa được quá nửa tổng số cử tri trong danh sách cử tri hoặc do ở đơn vị bầu cử đó có xảy ra vi phạm pháp luật nghiêm trọng đã bị Hội đồng bầu cử huỷ kết quả bầu cử.

Khi lập biên bản xác định kết quả bầu cử ở đơn vị bầu cử đó, Ban bầu cử phải ghi rõ vào biên bản và báo cáo ngay cho Ủy ban bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh để đề nghị Hội đồng bầu cử xem xét, quyết định việc bầu cử lại. Cuộc bầu cử lại được tiến hành chậm nhất là mười lăm ngày sau cuộc bầu cử đầu tiên. Cử tri chỉ chọn bầu trong danh sách những người đã ứng cử lần đầu. Danh sách cử tri vẫn căn cứ vào danh sách cử tri đã lập trong cuộc bầu cử đầu tiên. Trong trường hợp số cử tri đi bầu vẫn chưa được quá nửa số cử tri trong danh sách thì không tổ chức bầu cử lại lần thứ hai.

Câu 110: Trường hợp nào thì Hội đồng bầu cử ra quyết định huỷ bỏ kết quả bầu cử ở đơn vị bầu cử?

Trả lời: Hội đồng bầu cử ra quyết định hủy bỏ kết quả bầu cử trong trường hợp đơn vị bầu cử có vi phạm nghiêm trọng pháp luật về bầu cử. Hội đồng bầu cử tự mình hoặc theo đề nghị của Chính phủ, Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Uỷ ban bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh ra quyết định huỷ bỏ kết quả bầu cử và ấn định ngày bầu cử lại ở đơn vị bầu cử đó.

Câu 111: Biên bản xác định kết quả bầu cử ở địa phương của Uỷ ban bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh gồm những nội dung gì?

Trả lời: Sau khi nhận và kiểm tra Biên bản xác định kết quả bầu cử của các Ban bầu cử và giải quyết các khiếu nại (nếu có), Uỷ ban bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh lập biên bản xác định kết quả bầu cử chung ở địa phương (theo mẫu do Hội đồng bầu cử ban hành). Biên bản phải ghi rõ những nội dung sau đây:

- Thành phần của Uỷ ban bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh;

- Số lượng đơn vị bầu cử;

- Số người ứng cử;

- Số người được bầu;

- Tổng số cử tri của địa phương có tên trong danh sách;

- Số cử tri đã tham gia bỏ phiếu;

- Tỷ lệ cử tri đã tham gia bỏ phiếu so với tổng số cử tri;

- Số phiếu hợp lệ;

- Số phiếu không hợp lệ;

- Số phiếu bầu cho mỗi người ứng cử;

- Danh sách những người trúng cử;

- Những khiếu nại do Tổ bầu cử, Ban bầu cử đã giải quyết;

- Những khiếu nại do Ủy ban bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh đã giải quyết;

- Những việc quan trọng đã xảy ra và cách giải quyết của Uỷ ban bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh;

- Những khiếu nại, tố cáo, kiến nghị chuyển lên Hội đồng bầu cử.

Biên bản xác định kết quả bầu cử đại biểu Quốc hội và xác định kết quả bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân được lập riêng. Mỗi biên bản được lập thành năm bản theo mẫu quy định, có chữ ký của Chủ tịch, Thư ký Uỷ ban bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh. Biên bản xác định kết quả bầu cử đại biểu Quốc hội được gửi đến Hội đồng bầu cử trung ương, Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Thường trực Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân, Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương chậm nhất là bảy ngày sau ngày bầu cử.

Câu 112: Biên bản tổng kết cuộc bầu cử trong cả nước của Hội đồng bầu cử gồm những nội dung gì? Việc công bố kết quả bầu cử, danh sách những người trúng cử đại biểu Quốc hội được tiến hành như thế nào?

Trả lời: Sau khi nhận và kiểm tra tất cả các biên bản xác định kết quả bầu cử của các Ban bầu cử, Uỷ ban bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh và giải quyết các khiếu nại, tố cáo (nếu có), Hội đồng bầu cử lập biên bản tổng kết cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội trong cả nước. Biên bản phải ghi rõ những nội dung sau đây:

- Ngày bầu cử:

- Thành phần của Hội đồng bầu cử;

- Tổng số đại biểu Quốc hội được bầu;

- Tổng số người ứng cử;

- Tổng số cử tri;

- Tổng số cử tri đã tham gia bỏ phiếu;

- Tỷ lệ cử tri đã tham gia bỏ phiếu so với tổng số cử tri;

- Số phiếu hợp lệ;

- Số phiếu không hợp lệ;

- Số phiếu bầu cho mỗi người ứng cử;

- Danh sách những người trúng cử;

- Những khiếu nại, tố cáo do Hội đồng bầu cử giải quyết;

- Những hồ sơ về khiếu nại, tố cáo chưa được giải quyết chuyển đến Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa mới;

- Những việc quan trọng đã xảy ra và cách giải quyết.

Biên bản được lập thành năm bản, có chữ ký của Chủ tịch, Tổng thư ký Hội đồng bầu cử. Biên bản được gửi đến Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; một bản trình Quốc hội khoá mới và một bản lưu trữ.

Câu 113: Thời hạn giải quyết khiếu nại về kết quả bầu cử được quy định như thế nào?

Trả lời: Mọi khiếu nại về kết quả bầu cử được gửi đến Hội đồng bầu cử chậm nhất là mười ngày, kể từ ngày Hội đồng bầu cử công bố kết quả bầu cử. Hội đồng bầu cử có trách nhiệm xem xét, giải quyết khiếu nại về kết quả bầu cử trong thời hạn ba mươi ngày kể từ ngày nhận được khiếu nại. Quyết định giải quyết khiếu nại của Hội đồng bầu cử là quyết định cuối cùng. Đây là thủ tục đặc biệt để bảo đảm việc trình kết quả bầu cử tại kỳ họp đầu tiên của Quốc hội khoá mới chậm nhất sáu mươi ngày sau ngày bầu cử. Sau khi trình kết quả bầu cử, các khiếu nại về kết quả bầu cử sẽ được các cơ quan chức năng tiếp tục xem xét, giải quyết theo quy định của pháp luật.

Câu 114: Bầu cử bổ sung đại biểu Quốc hội là gì và phải tuân theo những thủ tục, trình tự nào?

Trả lời: Bầu cử bổ sung đại biểu Quốc hội là việc đơn vị bầu cử nào đó trong nhiệm kỳ Quốc hội khuyết đại biểu, không đủ số lượng ấn định ban đầu thì có thể được Uỷ ban thường vụ Quốc hội quyết định cho bầu cử bổ sung. Trường hợp thời gian còn lại của nhiệm kỳ Quốc hội dưới hai năm thì không tổ chức bầu cử bổ sung.

Trình tự, thủ tục tiến hành bầu cử bổ sung đại biểu Quốc hội được quy định như sau:

- Uỷ ban thường vụ Quốc hội quyết định việc bầu cử bổ sung, thành lập Uỷ ban bầu cử bổ sung, quyết định ngày bầu cử bổ sung và công bố chậm nhất là ba mươi ngày trước ngày bầu cử;

- Các tổ chức phụ trách bầu cử bổ sung: Uỷ ban bầu cử bổ sung ở trung ương, Ban bầu cử bổ sung ở đơn vị bầu cử cần phải bầu bổ sung, Tổ bầu cử bổ sung. Việc thành lập các tổ chức này theo các quy định của Luật bầu cử đại biểu Quốc hội. Nhiệm vụ, quyền hạn của Uỷ ban bầu cử bổ sung, Ban bầu cử bổ sung và Tổ bầu cử bổ sung được áp dụng theo quy định tương ứng về Hội đồng bầu cử, Ban bầu cử, Tổ bầu cử; thể thức bỏ phiếu, trình tự bầu cử, xác định kết quả bầu cử bổ sung được áp dụng các quy định như cuộc bầu cử chung.

Câu 115: Vi phạm pháp luật về bầu cử là gì?

Trả lời: Vi phạm pháp luật về bầu cử là những hành vi làm trái các quy định của pháp luật về bầu cử, bao gồm:

- Dùng thủ đoạn lừa gạt, mua chuộc hoặc cưỡng ép làm trở ngại việc bầu cử, ứng cử đại biểu Quốc hội của công dân;

- Người có trách nhiệm trong công tác bầu cử mà giả mạo giấy tờ, gian lận phiếu bầu hoặc dùng thủ đoạn khác để làm sai lệch kết quả bầu cử;

- Cản trở hoặc trả thù người khiếu nại, tố cáo về bầu cử.

Các hành vi vi phạm được liệt kê trên đây, tùy theo mức độ vi phạm mà có thể bị xử lý kỷ luật, xử phạt hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự.

Bộ luật hình sự có quy định cụ thể về tội phạm và hình phạt đối với các tội xâm phạm quyền tự do dân chủ của công dân.

Câu 116: Cơ quan nào có trách nhiệm xử lý các vi phạm pháp luật về bầu cử?

Trả lời: Thẩm quyền xử lý kỷ luật thuộc trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, đơn vị quản lý cán bộ, công chức, viên chức có hành vi vi phạm.

Các cơ quan (như Ủy ban nhân dân các cấp, Công an…) có thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính về bầu cử theo quy định của pháp luật.

Các cơ quan có thẩm quyền xử lý vi phạm pháp luật hình sự về bầu cử (cơ quan điều tra, kiểm sát, toà án) là những cơ quan có thẩm quyền xử lý các vi phạm pháp luật về bầu cử được Bộ luật hình sự quy định là tội phạm.

Người có hành vi vi phạm pháp luật về bầu cử thì tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm mà các cơ quan có trách nhiệm nói trên căn cứ vào các quy định pháp luật liên quan để xử lý theo thẩm quyền.

Bình luận