Khuôn Gà - Trù phú một vùng chè đặc sản

  

Trên những nương chè cơ bản đã được cắt cúp, chờ đón mưa xuân để đâm chồi, nảy lộc, chúng tôi chỉ còn nhìn thấy lác đác bóng dáng của các bà, các chị… đang thu hái nốt lứa chè đông cuối vụ. Xa xa, những ngôi nhà xây mái ngói, những ngôi nhà 2 tầng kiên cố ẩn hiện trong những khu vườn đồi trù phú, thấp thoáng những gốc đào, gốc mận đã nở hoa đón đợi mùa xuân về. Những đám ruộng một vụ, cho hiệu quả kinh tế thấp, đã được người dân san đất, chuẩn bị đưa giống chè cành cho năng suất cao, chất lượng ngon vào trồng, khó lòng nhìn thấy một vuông đất cỏ dại.

 

Bất giác, anh Đồng Quang Nghị, Chủ tịch Ủy ban MTTQ xã lên tiếng cắt ngang dòng xúc cảm đang bay bổng của tôi: Chè Khuôn Gà nổi tiếng thơm ngon, không kém gì các “đàn anh, đàn chị” như chè Tân Cương (T.P Thái Nguyên), Trại Cài (Đồng Hỷ), chè La Bằng… Chè sản xuất ra đến đâu, tư thương vào mua hết ngay đến đó. Cây chè không chỉ giúp người dân Khuôn Gà xóa đói, giảm nghèo mà còn vươn lên làm giàu. Những ngôi nhà khang trang kia đều được xây dựng “nhờ” cây chè”. Dừng lời, anh đưa tay chỉ về phía có ngôi nhà hai tầng được xây dựng theo kiểu dáng hiện đại, được sơn màu tím nhạt, nổi bật giữa nền trời xanh và màu xanh của vườn đồi, anh tiếp: “Chủ nhân của ngôi nhà đó chính là ông Bàng Văn Thanh, Chiến sĩ thi đua Toàn quốc đấy. Ông đã đi lên bằng chính đôi bàn tay lao động và khối óc của mình. Ông không chỉ làm giàu cho riêng mình mà còn nhiệt tình giúp đỡ bà con chòm xóm cùng phát triển. Xóm Khuôn Gà đã xóa xong nhà tạm. Ba năm liên tục được công nhận là Làng Văn hóa cấp huyện, nhiều năm liền được công nhận là Khu dân cư tiên tiến”.

 

Khuôn Gà có diện tích tự nhiên rộng tới 3,5 km2, chiếm gần ¼ diện tích của xã Hùng Sơn, nhưng địa hình lại không thuận lợi, đường sá đi lại khó khăn. Tuy vậy, 89 hộ dân nơi đây đã biết khắc phục những mặt khó khăn, phát huy tiềm năng, thế mạnh của đất đai để vươn lên phát triển kinh kế vườn đồi. Những khu đồi cao, khan hiếm nguồn nước đã được phủ xanh bằng cây keo (toàn xóm trồng đuợc hơn 100 ha rừng), nhiều hộ đã cho thu hoặc tới vòng hai; những quả đồi thấp, thuận lợi hơn về nguồn nước được người dân cải tạo để trồng chè (hơn 65ha), trong đó có tới 45% diện tích là chè giống mới như Keo Am Tích, Phúc Vân Tiên, Bát Tiên, Kim Tuyên, 777… xen kẽ trong vườn nhà là cây ăn quả; dưới các chân đồi hơn 16 ha đất lúa hai vụ đã đảm bảo nguồn lương thực cho gần 400 nhân khẩu trong xóm. Kinh tế xóm Khuôn Gà nhờ cây chè, cây rừng, ngày càng phát triển, cả xóm chỉ còn 6 hộ nghèo theo tiêu chí mới, nguyên nhân cơ bản là do những hộ này mới chia tách hộ nên thiếu đất canh tác; trên 99% số hộ trong xóm có xe máy, có hộ có tới 2-3 chiếc xe máy; 100% số hộ có phương tiện nghe, nhìn, điện thoại...

 

Thế nhưng, người dân Khuôn Gà chưa hoàn toàn hài lòng với những gì mình đã có, khát khao làm giàu, xây dựng một cuộc sống ngày càng đầy đủ, tốt đẹp hơn đã khiến nhiều hộ dân trong xóm vẫn phải trăn trở để tìm cho mình những hướng làm giàu mới như phát triển thêm nghề chăn nuôi “con đặc sản”, nghề sinh vật cảnh… với ý tưởng táo bạo: xây dựng xóm Khuôn Gà thành vùng du lịch sinh thái, để khách hàng đến mua chè không chỉ đơn thuần là trao đổi mua bán, mà còn có những phút giây thư giãn, được chiêm ngưỡng phong cảnh hữu tình, tận hưởng không gian thanh bình, yên ả của vùng quê có cây chè đặc sản, dần dần xây dựng và khẳng định thương hiệu cho chè Khuôn Gà.

 

Hiện nay, trong xóm đã có khoảng 15 hộ trồng sinh vật cảnh, gần chục hộ đưa con nhím về nuôi. Anh Hoàng Văn Thìn, Trưởng xóm Khuôn Gà tự hào nói: Xóm Khuôn Gà trước kia từng là căn cứ địa cách mạng, nơi đóng chân của 6 cơ quan, đoàn thể của Nhà nước như Kho Quân giới, Kho Quân lương…, phong cảnh lại hữu tình. Người phương xa đến đây không chỉ được thưởng thức hương vị chè đậm nước, quyện hương mà còn được tận hưởng những phút giây thư giãn thú vị, khám phá về một vùng quê cách mạng với nhiều ý nghĩa.

 

Theo những con đường uốn lượn men theo sườn đồi mới được tu sửa, phát dọn quang đãng, chúng tôi có mặt tại gia đình anh Nguyễn Văn Kim, người có nhiều kinh nghiệm trong khâu chăm sóc, thu hái và chế biến chè đặc sản. Ngôi nhà kiên cố được xây dựng khang trang, sạch sẽ với khá đầy đủ tiện nghi sinh hoạt hiện đại đã phần nào nói lên sự sung túc của gia chủ. Tôi có ý hỏi mua một cân chè về thành phố làm quà, anh Kim bày tỏ: - Nếu như không đặt trước thì rất khó mua được chè. Gia đình tôi có 7 sào chè, mỗi năm thu 6 lứa, năng suất trung bình đạt 2 tạ chè búp khô/sào. Như giá bán chè hiện nay, đạt 150-180 nghìn đồng/kg. Cây chè đã giúp gia đình tôi có được cuộc sống khá giả như ngày hôm nay.

 

Câu nói thành thật của anh Kim khiến tôi nhớ lại câu chuyện lúc trước với Trưởng xóm Thìn: Có nhiều gia đình, khi chè còn đang trên chảo lửa đã có người ngồi chờ sẵn để mua. Thậm chí, búp vẫn còn ở trên cây thì đã có người đến đặt mua hàng. Có những hôm cung không đủ cầu, mọi người trong xóm phải bàn nhau chia đều bán cho mỗi người một ít, để tránh… to tiếng. Chính vì chè không đủ bán, nên nhiều hộ dân trong xóm mới có ý tuởng mở rộng, phát triển kinh tế theo mô hình tổng hợp; tích cực ứng dụng KHKT vào sản xuất, chuyển đổi giống chè cho năng suất, chất lượng cao vào gieo trồng.

 

Nửa ngày ở vùng chè mà khó khăn lắm tôi mới mua được một cân chè.  Theo lời anh Chu Văn Chiến (chủ nhà): - Phải quý lắm mới bán và đây cũng không phải loại chè ngon thượng hạng đâu!

 

Sự thật thà, chân tình của gia chủ, khiến câu chuyện giữa chúng tôi càng trở lên rôm rả, thân thiện, không muốn chia xa. Song hoàng hôn đã buông dần sau dãy núi xa xa, đường về nhà còn dài, đành hẹn một ngày chúng tôi sẽ quay trở lại mảnh đất này, hy vọng khi đó, chè Khuôn Gà đã xây dựng được thương hiệu; vùng quê này sẽ trở thành một điểm du lịch sinh thái lý tưởng, thu hút được nhiều khách du lịch xa, gần…

Bình luận