Với điều kiện địa lý, khí hậu thuận lợi; người dân cần cù, chịu khó; các chính sách hỗ trợ được Đảng, Nhà nước, các ngành, các cấp quan tâm; trình độ kỹ thuật và công cụ phục vụ sản xuất ngày càng được nâng cao, những năm gần đây, thương mại - dịch vụ NLTS trên địa bàn tỉnh có bước phát triển tích cực. Giá trị sản xuất NLTS đều tăng qua các năm (theo giá thực tế, tổng giá trị sản xuất NLTS năm 2006 đạt hơn 3,37 nghìn tỷ đồng; năm 2010 ước đạt 6,63 nghìn tỷ đồng). Sản lượng hàng hóa NLTS năm 2006 đạt hơn 1,96 nghìn tỷ đồng; năm 2010 ước đạt 2,33 nghìn tỷ đồng. Số lao động tham gia sản xuất NLTS hiện chiếm tỷ lệ 68,33 trong tổng số lao động. Thị trường tiêu thụ trong tỉnh thuận lợi cho người sản xuất, có nhiều mặt hàng có khả năng cung cấp ra thị trường ngoài tỉnh như thịt gia súc gia cầm; có những mặt hàng có giá trị xuất khẩu cao như chè, hàng thủ công mỹ nghệ, chế biến lâm sản. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ thị trường trên địa bàn tỉnh tăng cao (năm 2006 đạt gần 4 nghìn tỷ đồng; năm 2010 ước đạt 9,3 nghìn tỷ đồng. Hoạt động xuất khẩu của tỉnh trong giai đoạn 2006-2010 có tốc độ tăng trưởng khá, bình quân trên 18%, chủ yếu tập trung vào một số mặt hàng như: Chè, may mặc, giấy đế...
Tuy nhiên, việc sản xuất còn nhỏ lẻ, manh mún, số lượng sản phẩm chưa ổn định trên thị trường; nhiều mặt hàng chưa đủ để phục vụ nhu cầu trong tỉnh như thủy sản, hoa quả… Công nghệ sản xuất, nhất là chế biến, bảo quản sau thu hoạch còn hạn chế; nhiều ngành nghề có điều kiện phát triển nhưng chưa tạo thành tập quán, kinh nghiệm và ứng dụng kỹ thuật như: Phát triển, nuôi trồng thủy sản, chăn nuôi dê, sản xuất nấm… Thị trường còn nặng tính tự sản, tự tiêu, chưa quan tâm đến thị trường lớn, ít có thương hiệu và ý thức bảo vệ thương hiệu dẫn đến hiệu quả kinh tế trong sản xuất chưa cao. Công tác quy hoạch vùng nguyên liệu phát triển bền vững, chính sách bảo hộ sản xuất chưa được quan tâm đúng mức. Nguồn nhân lực chủ yếu là lao động thủ công, giản đơn, ít qua đào tạo.
Nhằm phát triển nông thôn ngày càng bền vững theo hướng văn minh, hiện đại, với sự tham gia của các thành phần kinh tế và đa dạng hóa của các loại hình tổ chức phân phối, các hoạt động dịch vụ và phương thức kinh doanh trong thời kỳ hội nhập kinh tế, tỉnh đã phê duyệt Đề án “Phát triển thương mại NLTS sản giai đoạn 2011-2020”. Trên cơ sở những lợi thế về phát triển sản xuất, xu hướng, nhu cầu của thị trường, những năm tới, tỉnh sẽ tập trung đầu tư vào sản phẩm chè đã qua chế biến, hàng thủ công mỹ nghệ, thịt gia súc, gia cầm. Các mặt hàng khác tiếp tục duy trì để phục vụ nhu cầu cung ứng trên địa bàn. Theo kế hoạch, tỉnh phấn đấu đến năm 2015 diện tích chè của tỉnh đạt trên 19 nghìn ha với sản lượng chè búp tươi trên 211 nghìn tấn; đến năm 2020 diện tích đạt gần 21 nghìn ha, sản lượng đạt trên 223 nghìn tấn búp tươi. Sản lượng này cùng với công nghệ chế biến được nâng cao, chè Thái Nguyên sẽ có vị thế quan trọng đối với thị trường trong và ngoài nước.
Về chăn nuôi gia súc, gia cầm, thủy sản, chúng ta phấn đấu tăng bình quân 9%/năm. Tỉnh sẽ tạo cơ chế hỗ trợ đầu tư về quỹ đất, vốn, đào tạo, tuyển dụng lao động, bảo hiểm sản xuất… khuyến khích nông dân tập trung quy hoạch các vùng cỏ cho chăn nuôi trâu, bò; đầu tư các trang trại chăn nuôi gia cầm, tận dụng mặt nước cho nuôi trồng thủy sản; đầu tư xây dựng nhà máy cung ứng thức ăn gia súc - gia cầm; làm tốt công tác phòng, chống dịch bệnh; đầu tư cơ sở giết, mổ công nghiệp đảm bảo vệ sinh ở những vùng chăn nuôi tập trung… Cơ sở hạ tầng thương mại, dịch vụ cũng sẽ được chú trọng cải tạo và xây dựng, tập trung vào các chợ đầu mối về nông sản và các xã chưa có chợ.
Xu hướng thương mại - dịch vụ lưu thông hàng hóa trong thời gian tới sẽ tập trung phát triển hợp tác xã và doanh nghiệp dân doanh; tăng thêm các hợp tác xã ngành nghề nông thôn, quản lý kinh doanh chợ và đặc biệt là hình thành các hợp tác xã thu, mua hàng nông sản thực phẩm của hộ nông dân sản xuất, ký hợp đồng bán cho các nhà máy, doanh nghiệp chuyên ngành; tạo cơ chế ưu tiên doanh nghiệp dân doanh đăng ký các ngành nghề về lĩnh vực chế biến NLTS như: Sản xuất, chế biến chè; hàng thủ công cao cấp; sản xuất thức ăn, cung cấp giống, thuốc cho chăn nuôi; giết mổ, chế biến thịt gia súc gia cầm; quản lý chợ. Đối với doanh nghiệp Nhà nước, sẽ ưu tiên các doanh nghiệp sản xuất phân bón, thuốc trừ sâu, phụ gia sinh học phục vụ sản xuất với dây truyền công nghệ hiện đại. Phấn đấu ứng dụng thương mại điện tử trong kinh doanh đạt mức phổ cập 45% đến năm 2015 và 80% đến năm 2020; số lao động trong ngành thương mại - dịch vụ được qua đào tạo đạt trên 55%.
Công tác quản lý các quy hoạch phát triển thuộc lĩnh vực NLTS như: Chăn nuôi, phát triển ngành nghề nông thôn, nuôi trồng thủy sản, cải tạo trồng mới chè, sản xuất và tiêu thụ nấm, phát triển chợ… sẽ được thực hiện chặt chẽ hơn. Tăng cường quản lý chất lượng sản phẩm hàng hóa, đảm bảo an toàn thực phẩm, vệ sinh môi trường, phòng - chống dịch bệnh. Thực hiện nghiêm túc việc niêm yết giá bán tại các cơ sở sản xuất kinh doanh, nhất là tại các chợ; phát hiện và xử lý kịp thời các tập thể, cá nhân, tổ chức nhập hàng lậu, trốn lậu thuế nhằm bảo vệ hàng hóa trong nước, trong tỉnh. Sẽ hạn chế và có thể không cấp phép cho những tổ chức, cá nhân không đủ năng lực tài chính, trình độ chuyên môn và ý thức chấp hành pháp lệnh đăng ký kinh doanh chưa tốt, đặc biệt là những lĩnh vực gây thiệt hại cho sản xuất kinh doanh các mặt hàng NLTS.
Với xu hướng phát triển thương mại NLTS như vậy, chắc chắn việc sản xuất và lưu thông hàng hóa phục vụ nông nghiệp, nông dân và nông thôn sẽ phát triển, tạo việc làm cho nông dân, góp phần xóa đói giảm nghèo, đảm bảo an sinh xã hội và ổn định chính trị, góp phần xây dựng nông thôn mới.
