“Anh là đôi mắt của đời em”

 

Ông Vũ Văn Tiến sinh năm 1933 tại huyện Mỹ Hào, tỉnh Hải Hưng (nay là Hải Dương và Hưng Yên). Từ năm 1953 đến 1973 ông liên tục chiến đấu trong các chiến trường miền Nam. Năm 1974, ông về Quân khu Tả Ngạn, làm trợ lý chính sách rồi Trưởng phòng chính sách Quân khu III, sau đó về Chính ủy Viện Quân y 7 làm Phó Chủ nhiệm rồi Chủ nhiệm chính ủy và Phó Chỉ huy về chính trị Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Hải Hưng. Năm 1986, ông về nghỉ hưu với quân hàm Đại tá. Trò chuyện với chúng tôi về những ngày tháng trước đây, ông Tiến không khỏi xúc động: Xây dựng gia đình năm 1963, được ở bên vợ mới sau đám cưới đúng 2 ngày 1 đêm, ông phải lên đường vào miền Nam chiến đấu. Cho đến năm 1974, ông công tác ngoài Bắc, hai vợ chồng mới có dịp sum họp, ở bên nhau một vài ngày nghỉ phép trong năm. Xa vắng vợ, sống trong chiến trường khói lửa, ranh giới giữa sự sống và cái chết rất mong manh nên ông chỉ biết gửi niềm thương nỗi nhớ vào những lá thư, động viên người vợ hãy vững vàng vượt qua khó khăn, gánh vác trách nhiệm gia đình, thủy chung tin tưởng một ngày ông trở về. Đến khi được sum vầy thì bất hạnh lại ập đến với gia đình ông. Bận bịu vất vả với công việc đồng áng, lo toan cho cả gia đình bên chồng nên mặc dù có triệu chứng hoa mắt, chóng mặt và khuỵu ngã đột ngột nhưng không bao giờ bà Hào nghĩ mình lại mắc căn bệnh thiên đầu thống quái ác. Cho đến khi ông Tiến về công tác tại Viện Quân y đưa bà đi khám bệnh thì đã quá muộn, các bác sĩ đều lắc đầu cho biết bệnh bà Hào đã quá nặng không thể chạy chữa. Cứ thế ngày một, ngày hai từng mắt của bà mờ dần và lòa hẳn.

 

Ông Tiến đã hết lòng chạy chữa cho người vợ, đưa bà đi phẫu thuật ở Viện Quân y 7, Viện mắt Trung ương, luyện ngồi thiền, tập cách nhìn bằng tế bào ở Hải Dương, Hà Nội nhưng đều không thành công. Cậu con trai cả làm việc và xây dựng gia đình trên Thái Nguyên, cô con gái thì lấy chồng và định cư ở nước ngoài nên hàng ngày chỉ có hai ông bà ra vào ngôi nhà vô cùng trống trải. Bà thất vọng, khóc nhiều và chán nản, từng có ý nghĩa rời bỏ cuộc sống nhưng ông đã động viên bà hãy lạc quan, tin tưởng, sống vững vàng, là chỗ dựa cho con cháu. Dù có thế nào ông cũng luôn luôn ở bà, nguyện suốt quãng đời còn lại sẽ là đôi mắt của vợ.

 

Ông bà chuyển nhà từ Hải Dương lên phường Hoàng Văn Thụ (T.P Thái Nguyên) sinh sống. Suốt hơn chục năm nay, ông Tiến thường ngày chăm lo từ miếng ăn giấc ngủ đến vệ sinh, tắm giặt, thuốc thang cho bà khi đau ốm. Để bà hòa nhập cộng đồng, ông thường xuyên đưa bà tham gia các buổi sinh hoạt đoàn thể ở tổ, phường như Hội Phụ nữ, Hội Người cao tuổi. Người dân trong tổ cho biết, không buổi họp nào là ông bà Tiến-Hào vắng mặt. Thời gian rảnh rỗi, ông lại đưa bà đến thăm hỏi, trò chuyện thân mật cùng người dân trong tổ. Con cháu đi làm, đi học từ sáng đến tối mới về nên ở nhà, để bà vơi bớt nỗi buồn, ông mở đài, đọc báo cho bà nghe, kể cho bà nghe những đổi thay của quê hương đất nước để bà phấn khởi. Xem ti vi, phim truyện hay ca nhạc ông đều miêu tả tỉ mỉ hình ảnh, thuyết minh rõ ràng để bà có thể tưởng tượng một cách sinh động và cảm nhận như mình đang được nhìn bằng mắt bộ phim, chương trình biểu diễn đó. Đưa bà đi tham quan các khu du lịch như Lăng Bác, biển Đồ Sơn, Trà Cổ, Hồ Núi Cốc, Bảo tàng văn hóa các dân tộc Việt Nam… ông đều kiêm vai trò hướng dẫn viên du lịch cho bà. Ông bảo: Làm hướng dẫn viên du lịch cho người sáng mắt đã khó, cho người không nhìn thấy còn khó hơn. Tôi phải miêu tả cho bà ấy thật cụ thể, dễ hiểu nhất, điều quan trọng để bà ấy cảm nhận được như đang được nhìn ngắm bằng mắt. Xúc động nhất là các ngày lễ, Tết hay có dịp vui buồn, ông mang những lá thư đã viết từ ngày còn ở trong chiến trường gửi về hậu phương đọc lại cho bà nghe. Có hàng trăm lá thư ông viết gửi về cho bà từ những năm 1966, nét chữ mềm mại, lời văn giản dị, tràn đầy tình cảm yêu thương vẫn được bà Hào gìn giữ cẩn thận, nay ông mang dán vào hai quyển vở ô ly. Lần nào đọc thư, ông bà cũng hồi tưởng về quá khứ với biết bao kỷ niệm và khóc, những giọt nước mắt của hạnh phúc, tình yêu thương, thủy chung son sắt.

 

Khi chúng tôi hỏi, con cái ông bà đều đã trưởng thành và có điều kiện kinh tế khá, trong khi đó ông bà tuổi đã cao sao không thuê người giúp việc về đỡ đần việc nhà và chăm sóc bà, ông Tiến đã nói: "Các cụ vẫn nói con chăm cha không bằng bà chăm ông, tôi nghĩ rất đúng. Những năm tháng tôi đi chiến đấu làm tròn nhiệm vụ với Tổ quốc, bà ấy đã một mình ở nhà thay tôi lo toan mọi công việc gia đình rất vất vả, khi tôi trở về bên cạnh thì bà lại bị lòa hai mắt. Tất cả những việc tôi làm đều vì một mong muốn duy nhất là chăm sóc người vợ thật chu đáo để bù đắp lại những mất mát, thiệt thòi mà bà ấy đã gặp phải, làm tròn nghĩa tình chồng vợ, chia sẻ mọi buồn vui trong cuộc sống với bà ấy". Còn bà Hào không ngừng lấy khăn tay lau nước mắt, bà nói: "Được mọi người động viên tôi cũng rất vui và tự hào khi có một người chồng hết mực yêu thương, thủy chung với mình. Tôi luôn tự nhủ mình phải sống thật lạc quan, kiên cường. Bao năm nay tôi đã rất hạnh phúc khi chồng là đôi mắt của đời mình, nhưng tôi chỉ có một điều ước, trước khi tôi qua đời có thể một lần sáng mắt để nhìn thấy ông ấy, thấy các con, cháu, người thân và bà con lối xóm…"

 

Nhận xét về ông Vũ Văn Tiến, ông Nguyễn Ngọc Lai, Chi hội trưởng Chi hội Người cao tuổi tổ 15 cho biết: Việc làm của ông Tiến đối với vợ là sự thể hiện tấm lòng yêu thương, thủy chung khiến chúng tôi rất khâm phục. Trong mọi cuộc họp hay sinh hoạt ở tổ, chúng tôi đều nêu gương về  lối sống giản dị chân thành, vẹn nghĩa, trọn tình của ông Tiến. Vừa qua, Hội Cựu chiến binh tỉnh đã tặng Giấy khen cho ông Vũ Văn Tiến vì có thành tích xuất sắc trong 4 năm thực hiện Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”.

Bình luận