Cần tăng cường các hoạt động phòng chống viêm gan vi rút

Bệnh viêm gan vi rút là bệnh truyền nhiễm phổ biến, gây ra hậu quả nghiêm trọng về sức khỏe và dẫn đến tử vong do các biến chứng. Có 5 loại viêm gan vi rút, trong đó viêm gan vi rút B và C lây truyền tương tự như vi rút HIV bao gồm qua đường máu , quan hệ tình dục và lây truyền từ mẹ sang con. Viêm gan vi rút D chỉ lây truyền khi có mặt viêm gan B và có đường lây truyền tương tự. Viêm gan vi rút A và E lây qua đường phân - miệng do thức ăn, nước uống và thực hành vệ sinh không đầy đủ.

 

Trong 5 loại vi rút viêm gan, vi rút viêm gan B và C gây ảnh hưởng lớn nhất tới sức khỏe con người. Theo ước tính của Tổ chức Y tế thế giới (WHO), năm 2016 toàn cầu có khoảng 240 triệu trường hợp nhiễm vi rút viêm gan B mãn tính, khoảng 150 triệu trường hợp nhiễm vi rút viêm gan C. Số trường hợp tử vong do viêm gan vi rút B và C ước tính mỗi năm là khoảng 1,4 triệu người. Vi rút viêm gan B và C cũng là nguyên nhân gây ung thư gan hàng đầu, ước tính có khoảng 57% các trường hợp xơ gan và 78% trường hợp ung thư gan tiên phát do nhiễm vi rút viêm gan B và C. Theo kết quả điều tra gánh nặng bệnh tật toàn cầu năm 2013, viêm gan vi rút đứng hàng thứ 7 trong số các nguyên nhân gây ra tử vong nhiều nhất.

 

Kết quả nghiên cứu tại Việt Nam ở một số nhóm quần thể cho thấy: Tỷ lệ nhiễm vi rút viêm gan B là khoảng 6-20%, tỷ lệ nhiễm vi rút viêm gan C khoảng 0,2- 4%. Vi rút viêm gan B lây truyền chủ yếu từ mẹ sang con và vi rút viêm gan C lây truyền chủ yếu qua đường máu. Theo kết quả mô hình ước tính gánh nặng bệnh tật do vi rút viêm gan B và C của Bộ Y tế, có khoảng 8,7 triệu người nhiễm vi rút viêm gan B mãn tính và khoảng 1 triệu người nhiễm vi rút viêm gan C mãn tính. Số trường hợp tử vong ước tính tại thời điểm năm 2015 do vi rút viêm gan B là khoảng hơn 23.000 người và do vi rút viêm gan C là khoảng hơn 6.000 người.

 

Mặc dù gánh nặng bệnh tật do viêm gan vi rút gây ra là rất lớn nhưng nhận thức của người dân về vấn đề này còn rất thấp. Trong khi đó việc triển khai các hoạt động giáo dục truyền thông để nâng cao nhận thức của cộng đồng về nguy cơ nhiễm vi rút viêm gan đặc biệt là viêm gan B và viêm gan C còn rất hạn chế, chưa được triển khai đồng bộ. Bên cạnh đó, chương trình giám sát bệnh viêm gan vi rút hiện nay chưa phản ánh được số hiện nhiễm hoặc đã từng nhiễm tại cộng đồng đối với từng loại vi rút viêm gan để xác định các hoạt động ưu tiên trong dự phòng viêm gan vi rút.

 

Về dự phòng, tỷ lệ tiêm vắc xin viêm gan B cho trẻ sơ sinh trong 24 giờ đầu đạt tới 74% vào năm 2012 nhưng đã giảm xuống còn 56% vào năm 2013 và 64,8% năm 2015. Về điều trị, việc tiếp cận với các thuốc điều trị viêm gan, đặc biệt là viêm gan C vẫn còn hạn chế do chi phí điều trị hiện còn cao, vượt quá khả năng chi trả của nhiều người bệnh , trong khi đó chưa có quy định bảo hiểm y tế chi trả.

 

Ngoài các khó khăn về chuyên môn, mặc dù, bệnh viêm gan vi rút, đặc biệt là vi rút viêm gan B và viêm gan C đang diễn biến âm thầm, là một vấn đề lớn với sức khỏe cộng đồng nhưng việc đầu tư nguồn lực cho các hoạt động phòng chống viêm gan còn rất hạn chế. Một số các bệnh truyền nhiễm khác có nguồn kinh phí từ chương trình mục tiêu thì phòng chống viêm gan chưa có. Kinh phí hiện nay mới tập trung cho tiêm phòng vắc xin và sàng lọc máu. Kinh phí Nhà nước cấp hiện nay không đủ để triển khai đồng bộ các hoạt động phòng chống viêm gan trong khi các nguồn kinh phí quốc tế đang trong giai đoạn cắt giảm.

Bình luận